Quyết định · UBND

Quyết định 02/2009/QĐ-UBND

V/v ban hành quy định về thực hiện nếp sống văn hoá trên địa bàn tỉnh Thái Bình

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
18/03/2009
Ngày có hiệu lực
28/03/2009
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)

Hướng dẫn thi hành (5)

Bố cục (39 điều)

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này bản Quy định về thực hiện nếp sống văn hoá trên địa bàn tỉnh Thái Bình.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 2080/2001/QĐ-UB ngày 13/12/2001 của UBND tỉnh về thực hiện nếp sống văn hoá.
Điều 3. Chánh Văn phòng UBND tỉnh; Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch; các Giám đốc sở, Thủ trưởng, ban, ngành, đoàn thể; Chủ tịch UBND huyện, thành phố; Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
Chương I — QUY ĐỊNH CHUNG
  Điều 1. Xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa là trách nhiệm  của mọi công dân, là nhiệm vụ của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội, nhằm xây dựng con người mới, nền văn hóa mới, thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
  Điều 2. Thực hiện nếp sống văn hóa là lựa chọn, kế thừa và phát huy những truyền thống, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc, kết hợp với tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa hiện đại.
  Điều 3. Nghiêm cấm việc truyền bá tư tưởng - văn hóa phản động, đồi trụy; bài trừ hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan và các tệ nạn xã hội.
Chương II — NẾP SỐNG CỦA CÁ NHÂN GIA ĐÌNH - XÃ HỘI.
  Điều 4. Nếp sống của cá nhân
  Điều 5. Nếp sống gia đình.
  Điều 6. Nếp sống trong xã hội
Chương III — VIỆC CƯỚI
  Điều 7. Tổ chức hôn nhân gia đình là nhu cầu tự nhiên của con người. Gia đình, đoàn thể,  xã hội có trách nhiệm chăm lo bảo đảm hạnh phúc lứa đôi.
  Điều 8. Công dân đủ tuổi kết hôn, trước khi tổ chức lễ cưới, phải đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú để đăng ký kết hôn. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Lễ trao giấy chứng nhận kết hôn cần được tiến hành trang trọng, lịch sự tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
  Điều 9. Việc đưa, đón dâu tránh phô trương hình thức, không làm ảnh huởng đến trật tự an toàn giao thông. (Trừ trường hợp kết hôn với người nước ngoài).
  Điều 10. Tổ chức lễ cưới tiết kiệm, vui vẻ, lành mạnh theo nếp sống văn hoá; Lễ cưới có thể tổ chức tại gia đình, nơi công cộng hoặc ở đơn vị nhưng phải theo đúng phong tục tập quán và qui định của địa phương, đơn vị.
  Điều 11. Trong lễ cưới nếu sử dụng các phương tiện loa đài thì công suất âm thanh chỉ đủ nghe trong hội cưới; mọi sinh hoạt văn hoá phải đảm bảo lành mạnh và không được sử dụng loa đài quá 22 giờ.
  Điều 12. Trường hợp có tổ chức ăn uống trong lễ cưới phải thực hành tiết kiệm. Khách mời dự tiệc cưới  chỉ nên giới hạn trong phạm vi họ hàng thân tộc và anh em bạn bè thân thích của gia đình. Gia đình tổ chức lễ cưới phải đảm bảo và chịu trách nhiệm trước pháp luật về an ninh trật tự, an toàn thực phẩm cho người đến dự.
  Điều 13. Để phù hợp với nếp sống văn minh của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sau lễ đăng ký kết hôn, khuyến khích hình thức tổ chức tiệc trà và báo hỉ trong việc cưới.
Chương IV — VIỆC TANG
  Điều 14. Theo truyền thống của người Việt Nam, việc tổ chức lễ tang, an táng cho người qua đời là bổn phận của con cháu trong gia đình, dòng họ và  trách nhiệm của nhân dân trong cùng thôn, làng, tổ dân phố. Việc tang phải bảo đảm  trang nghiêm, chu đáo, tiết kiệm, thực hiện tốt nếp sống văn hóa và quy định  hương ước, quy ước thôn làng, tổ dân phố về tổ chức việc tang.
  Điều 15. Gia đình khi có người qua đời, phải làm thủ tục khai tử tại Ủỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn. Chính quyền cơ sở hoặc trưởng thôn, tổ trưởng dân phố phối hợp với trưởng ban công tác mặt trận, hội người cao tuổi cử ban lễ tang, cùng gia đình tang chủ lập và điều hành chương trình lễ tang.
  Điều 16. Người qua đời, trong phạm vi 12 tiếng phải được nhập quan, không quá 48 tiếng phải được an táng; người qua đời vì bệnh truyền nhiễm phải thực hiện theo quy định của ngành y tế; xóa bỏ các tục lệ lạc hậu, mê tín dị đoan và những hình thức không phù hợp với phong tục, tập quán tốt đẹp của địa phương; cấm lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo gây phiền hà, tốn phí thời gian và tiền của trong việc tang.
  Điều 17. Trong lễ tang, nếu sử dụng loa đài thì công suất âm thanh chỉ đủ nghe trong gia đình tang chủ; thời gian sử dụng nhạc tang không trước 5 giờ và không quá 22 giờ.
  Điều 18. Việc tổ chức phúng viếng và đưa tang: Ban tang lễ phải cử người điều hành việc phúng viếng theo nếp sống văn hóa; hạn chế dùng vòng hoa khi phúng viếng; khuyến khích dùng vòng hoa luân chuyển khi phúng viếng; xóa bỏ các hủ tục mê tín dị đoan trong tiến hành lễ tang và khi đưa tang.
  Điều 19. Người qua đời phải được an táng tại nghĩa trang; công việc an táng phải bảo đảm vệ sinh môi trường theo quy định của chính quyền địa phương.
  Điều 20. Không lợi dụng việc tang để tổ chức ăn uống linh đình.
Chương V — VIỆC QUẢN LÝ NGHĨA TRANG VÀ XÂY MỘ
  Điều 21. Uỷ ban nhân dân huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn, phải xây dựng quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất cho nghĩa trang; phải cử người quản trang, lập sơ đồ mộ chí; mộ đặt theo hàng; xây dựng quy hoạch trồng cây xanh xung quanh nghĩa trang, bảo đảm cảnh quan khang trang sạch đẹp. Nghiêm cấm việc đắp mộ giả hoặc xây bao nhận phần đất. Có kế hoạch đầu tư kinh phí từng bước xây dựng nghĩa trang thành công trình văn hóa tưởng niệm của địa phương
  Điều 22. Các gia đình có nhu cầu xây mộ phải tuân thủ quy định về địa điểm, quy cách và báo với quản trang. Quản trang có trách nhiệm hướng dẫn và giám sát các gia đình xây mộ. Mộ xây theo quy cách thống nhất:
  Điều 23. Khuyến khích hình thức hoả táng.
Chương VI — LỄ HỘI, HỘI NGHỊ, LỄ ĐÓN NHẬN CÁC DANH HIỆU,
  Điều 24. Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa quần chúng góp phần giáo dục truyền thống của quê hương trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, giữ gìn, phát huy vốn văn hóa truyền thống. Cần chú trọng tổ chức các hình thức vui chơi giải trí lành mạnh trong lễ hội. Nghiêm cấm lợi dụng lễ hội để tổ chức các hoạt động có nội dung phản động, đồi trụy, mê tín dị đoan hoặc các hình thức kinh doanh lễ hội trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc.
  Điều 25. Việc tổ chức hội nghị, sơ kết, tổng kết ở các ngành, các cấp  có nội dung chương trình thích hợp, đúng giờ, không kéo dài thời gian quá mức cần thiết, không phô trương hình thức.
Chương VII — TIÊU CHUẨN DANH HIỆU
  Điều 26. Tiêu chuẩn danh hiệu gia đình văn hóa
  Điều 27. Tiêu chuẩn danh hiệu thôn làng văn hóa
  Điều 28. Tiêu chuẩn danh hiệu tổ dân phố ( khu phố) văn hoá
  Điều 29. Tiêu chuẩn danh hiệu đơn vị văn hoá
Chương VIII — TRÌNH TỰ ĐĂNG KÝ, BÌNH XÉT, HÌNH THỨC CÔNG NHẬN
  Điều 30. Trình tự đăng ký, bình xét, khen thưởng:
  Điều 31. Hình thức công nhận, khen thưởng.
  Điều 32. Thủ tục, hồ sơ đề nghị công nhận, khen thưởng các danh hiệu văn hóa
  Điều 33. Chế độ khen thưởng
Chương IX — KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
  Điều 34. Danh hiệu gia đình văn hoá, đơn vị văn hoá là danh hiệu thi đua trong ‘‘Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá’’ được đăng ký với cơ quan quản lý Nhà nước về thi đua khen thưởng theo Luật Thi đua Khen thưởng dùng để ghi nhận, biểu dương các gia đình, đơn vị đạt các tiêu chí  về xây dựng đời sống văn hoá.
  Điều 35. Uỷ ban nhân dân, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp phối hợp chặt chẽ với các ngành, các tổ chức đoàn thể nhân dân tuyên truyền phổ biến rộng rãi đến các tầng lớp nhân dân trong tỉnh thực hiện nghiêm chỉnh Quy định này. Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, Chủ tịch Ủỷ ban nhân dân huyện, thành phố, xã, phường, thị trấn chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc chấp hành của cán bộ, công chức, người lao động, hộ dân cư thuộc phạm vi quản lý.
  Điều 36. Căn cứ vào Quy định của Uỷ ban nhân dân  tỉnh về thực hiện nếp sống văn hoá và thực trạng nếp sống, phong tục của từng địa phương, Uỷ ban nhân dân các cấp có thể ban hành những quy định cụ thể hơn nhưng không được trái với Quy định này.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.