Văn bản

Văn bản 04-NH/QĐ

Ban hành thể lệ tín dụng ngắn hạn đối với các tổ chức kinh tế

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
08/01/1991
Ngày có hiệu lực
08/01/1991
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Được hướng dẫn bởi (1)

Hướng dẫn thi hành (2)

Bố cục (36 điều)

Điều 1. Ban hành theo quyết định này Thể lệ tín dụng ngắn hạn đối với các tổ chức kinh tế.
Điều 2. Thể lệ này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Thay thể lệ tín dụng ban hành theo Quyết định số 19/NH-QĐ ngày 27-04-1988.
Điều 3. Thể lệ tín dụng này được áp dụng chung cho các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển, HTX tín dụng và Công ty Tài chính.
Điều 4. Các đồng chí Chánh văn phòng, Chánh thanh tra, Vụ trưởng, Viện trưởng thuộc Ngân hàng Nhà nước, Tổng giám đốc và Giám đốc các Ngân hàng thương mại; Ngân hàng đầu tư và phát triển, HTX tín dụng và Công ty Tài chính và các Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
Điều 1. Các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và phát triển, HTX tín dụng và Công ty Tài chính (gọi tắt là tổ chức tín dụng-TCTD) thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, dùng các nguồn vốn tín dụng để cho các tổ chức kinh tế quốc doanh, hợp doanh, tập thể và tư doanh vay (gọi tắt là các tổ chức kinh tế-TCKT) nhằm mục đích bổ sung vốn lưu động phục vụ các nhu cầu sản xuất - kinh doanh.
Điều 2. Nguyên tắc vay vốn.
Điều 3. Điều kiện để được vay vốn.
Điều 4. Đối tượng cho vay bao gồm giá trị vật tư, hàng hoá và các chi phí cấu thành nên giá mua hoặc giá thành sản phẩm.
Điều 5. Giá cho vay căn cứ vào hợp đồng kinh tế, hoặc trên chứng từ mua vật tư, hàng hoá và chi phí mà đơn vị vay vốn đã chấp nhận.
Điều 6. Thời hạn cho vay được xác định gắn với đặc điểm chuyển vốn của quá trình sản xuất - kinh doanh của TCKT vay vốn, nhưng không quá 6 tháng. Trường hợp đặc biệt có quy định riêng, nhưng tối đa không quá 1 năm.
Điều 7. TCTD phát tiền vay theo tiến độ thực hiện mục đích vay vốn của TCKT.
Điều 8. Tổng dư nợ các loại vay của một khách hàng không được quá 10% vốn tự có và quỹ dự trữ của TCTD. Tổng số vốn cho 10 khách hàng vay nhiều nhất không được quá 30% tổng số dư nợ cho vay của TCTD đó. Các TCTD không được giành quyền ưu đãi cho vay đối với khách hàng vay đặc biệt đã được quy định trong Pháp lệnh Ngân hàng, HTX tín dụng và Công ty Tài chính. Trường hợp đặc biệt sẽ có quy định riêng.
Điều 9. TCKT phải có trách nhiệm thực hiện việc trả đủ nợ và lãi đúng kỳ hạn, chủ động trả nợ khi đến hạn. Nếu không tự trả thì TCTD khấu trừ vào tài khoản tiền gửi , nếu tiền gửi không đủ trả thì TCTD chuyển số thiếu sang nợ quá hạn.
Điều 10. Lãi cho vay được thực hiện theo mức do TCTD ấn định trong phạm vi khung lãi suất đã được Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quyết định. Việc thu lãi tiền vay được tiến hành phù hợp với từng phương pháp cho vay.
Điều 11. TCTD được quyền yêu cầu khách hàng vay vốn cung cấp các thông tin có liên quan đến vốn vay, tiến hành kiểm soát trong quá trình cho vay và sử dụng vốn vay. Nếu phát hiện sai trái so với thể lệ tín dụng này thì phải xử lý theo chế độ quy định.
Điều 12. Các TCKT được vay vốn ngắn hạn của các TCTD theo các loại sau đây:
Điều 13. Sau khi đã sử dụng hết vốn lưu động tự có và vốn huy động vào sản xuất- kinh doanh, TCTK có thể xin vay ngắn hạn số còn thiếu ở TCTD nơi đặt quan hệ. Nhu cầu vay vốn tối đa không được trái với quy định tại Điều 3 trong thể lệ này.
Điều 14. TCTK có quan hệ tín dụng được TCTD mở cho một tài khoản tiền vay bên cạnh tài khoản tiền gửi chính của đơn vị đó.
Điều 15. Phương pháp cho vay:
Điều 16. Việc định kỳ hạn nợ dựa trên đặc điểm chu chuyển vốn của đối tượng xin vay. Nếu TCTD cho vay theo kế hoạch quý, mùa, vụ thì định mức thu nợ từng lần trong định kỳ. Nếu cho vay theo từng món, thì hạn thu nợ được ấn định vào lúc đối tượng xin vay đó đã chuyển thể. TCTD có thể cho vay tiếp theo đối tượng mới , nếu TCKT yêu cầu.
Điều 17. Đối với trường hợp có quan hệ vay, trả thường xuyên hoặc từng món nhưng có kỳ hạn trên một tháng, chỉ tính và thu lãi tiền vay vào ngày cuối tháng, nhưng nếu là nợ vay từng món có thời hạn trả dưới một tháng, sẽ thu lãi khi trả nợ gốc. TCTD thu lãi tiền vay bằng cách trích tài khoản tiền gửi, hoặc nhận tiền mặt của bên vay nộp vào; nếu đến hạn nộp lãi mà tiền gửi không đủ số dư để trả, TCTD sẽ nhập lãi vào nợ gốc.
Điều 18. TCKT có nhu cầu vốn ngoại tệ để nhập vật tư hàng hoá từ nước ngoài, TCTD có thể xem xét và nếu đủ điều kiện sẽ cho vay bằng đồng tiền Việt Nam để TCKT mua ngoại tệ, hoặc cũng có thể phát tiền vay bằng ngoại tệ, nhưng vẫn hạch toán cho vay bằng Đồng Việt Nam. Các TCKT phải chấp hành chế độ quản lý ngoại hối của Nhà nước.
Điều 19. TCTD có thể nhận chiết khấu các kỳ phiếu thương mại nhằm giúp các TCKT quốc doanh, hợp doanh phục hồi năng lực thanh toán vốn.
Điều 20. TCKT xin chiết khấu phải là đơn vị giữ vững được cân đối tài chính và hoạt động kinh doanh có lãi.
Điều 21. Các kỳ phiếu xin TCTD chiết khấu phải đảm bảo đầy đủ căn cứ pháp lý, còn hạn thanh toán và được bảo toàn mệnh giá.
Điều 22. Khi xin chiết khấu, TCKT phải tuân theo các quy định sau đây:
Điều 23. Khi vay tiền TCTD, các TCKT tập thể, tư doanh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình ra thế chấp. Giá trị tài sản thế chấp phải nhiều hơn tiền vay nợ từ 20% trở lên. Riêng đối với tổ chức kinh tế tập thể sản xuất nông nghiệp và nông dân cá thể có hướng dẫn riêng.
Điều 24. Tài sản thế chấp vay nợ TCTD bao gồm vàng, bạc, đá quý, kim khí; các chứng chỉ tiền gửi, thẻ gửi tiết kiệm do các Ngân hàng quốc doanh phát hành và các bất động sản... các tài sản đó không bị ràng buộc vào các khoản thế chấp khác.
Điều 25. Bên vay có thể đề nghị 1 bên khác đứng ra bảo lãnh việc vay nợ TCTD. Bên nhận bảo lãnh phải là chủ thể có đầy đủ tư cách pháp lý, xuất trình các giấy tờ cần thiết và đưa tài sản ra bảo lãnh như Điều 23 và Điều 24 đã nêu trên. Việc nhận bảo lãnh phải được làm bằng văn bản có sự xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Nợ đến hạn, nếu bên vay không trả được, bên nhận bảo lãnh phải trả thay như trách nhiệm đầy đủ của bên vay đối với TCTD.
Điều 26. Trách nhiệm của hai bên.
Điều 27. Xử lý tài sản thế chấp.
Điều 28. Tổng giám đốc hoặc Giám đốc các TCTD độc lập quy định các thể thức cho vay, thu nợ cụ thể; công bố biểu lãi suất trong khung lãi suất Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ấn định. Tổng giám đốc Ngân hàng quốc doanh có thể quy định thêm các trường hợp đặc biệt về điều kiện cho vay, thời hạn thu nợ, mức phán quyết khi cho vay. Bất kỳ cấp nào nào trong TCTD cũng không được phép miễn thu lãi, hạ mức lãi so với biểu lãi suất hiện hành hoặc bỏ thủ tục thế chấp tài sản.
Điều 29. Giám đốc các chi nhánh của TCTD chịu hoàn toàn trách nhiệm trước Tổng giám đốc và Giám đốc các TCTD về những quyết định cho vay vốn. Chỉ được ký duyệt cho vay căn cứ trên hồ sơ đã được lập theo quy định, có chữ ký của cán bộ tín dụng và kiểm soát viên (nếu có). Những món cho vay trên mức phán quyết phải thỉnh thị Tổng giám đốc hoặc Giám đốc cấp trên khi được chấp thuận mới cho vay. Chỉ được phép gia hạn nợ một lần cho mỗi món vay, nếu bên vay có lý do chính đáng và có đơn xin gia hạn.
Điều 30. Các TCTD thường xuyên kiểm tra trong quá trình cho vay, sử dụng vốn vay và bảo quản tài sản thế chấp của TCKT; Hàng tháng phải tính toán giá trị vật tư làm đảm bảo nợ vay. Các TCKT có trách nhiệm xuất trình đầy đủ các tài liệu và tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm tra.
Điều 31. Nếu phát hiện các trường hợp sử dụng vốn vay sai mục đích, hoặc vốn vay bị thất thoát, TCTD phải kịp thời xử lý tuỳ mức độ sai phạm, trước nhất phải thu hồi lại vốn, dù chưa đến hạn trả, hoặc chuyển ngay sang nợ quá hạn. TCTD có thể hạn chế mức cho vay, tạm đình chỉ cho vay, công bố phân biệt đối xử với từng tổ chức kinh tế hoặc chấm dứt quan hệ tín dụng. Mức độ xử lý cao nhất là đưa ra Trọng tài kinh tế xét xử và tuỳ tính chất mức độ vi phạm mà TCTD có thể khởi kiện trước pháp luật.
Điều 32. Căn cứ vào thể lệ này, các vụ có liên quan và các TCTD có văn bản hướng dẫn thực hiện./.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.