Văn bản
Văn bản 05-BLĐ/TT
Về việc đảm bảo an toàn lao động trong việc khai thác đá
- Tình trạng
- Ngưng hiệu lực
- Ngày ban hành
- 13/02/1961
- Ngày có hiệu lực
- 28/02/1961
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bố cục (41 điều)
Điều 1. Nay tạm thời công bố bản Quy tắc an toàn kỹ thuật này để đề phòng tai nạn lao động có thể xảy ra trong khi làm việc, làm nguy hại đến tính mệnh của công nhân làm đá, nhằm mục đích nâng cao hiệu suất công tác. Điều 2. Cán bộ lãnh đạo các cấp phải phối hợp mật thiết với công đoàn tổ chức việc giáo dục quy tắc an toàn kỹ thuật cho cán bộ và công nhân viên học tập, thường xuyên kiểm tra, đôn đốc theo dõi việc thực hiện quy tắc này, nêu lên những hiện tượng có thể xảy ra tai nạn để giáo dục chung, đồng thời bản thân cán bộ phải gương mẫu thực hiện các quy tắc. Điều 3. Cán bộ trực tiếp lãnh đạo thường xuyên ở hiện trường mỗi ngày phải lên núi kiểm tra các chỗ làm của từng người một, phải nhắc nhở anh chị em đề phòng mọi trường hợp tránh tai nạn, nếu có hiện tượng gì thì kịp thời giáo dục uốn nắn. Điều 4. Phải lo sắm đầy đủ các dụng cụ, thiết bị an toàn cần thiết cho công nhân dùng để bảo đảm được an toàn. Điều 5. Tổ trưởng đục choòng phải có trách nhiệm trong và sau khi làm việc, phải kiểm tra, nhắc nhở anh chị em trong tổ thực hiện quy tắc để bảo đảm an toàn; tổ trưởng đá hộc, đá dăm, phải chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn cho bộ phận làm dưới chân núi. Điều 6. Anh chị em công nhân phải nghe theo sự hướng dẫn của cán bộ lãnh đạo, phải nghiêm chỉnh chấp hành quy tắc an toàn tự bảo vệ cho mình và những người quanh mình, không được chủ quan làm ẩu. Điều 7. Không được bố trí người mắt kém, tai điếc, ốm yếu đau bệnh thần kinh, đau tim lên làm công tác trên núi hoặc làm công tác đốt mìn. Điều 8. Các ý kiến đề nghị của công nhân về sửa đổi thiết bị an toàn, dụng cụ phòng hộ, v.v... cần phải nghiên cứu kỹ càng, phải kịp thời giải quyết, nếu không giải quyết phải nói rõ lý do. Điều 9. Khi xảy ra tai nạn lao động phải tổ chức nghiên cứu tìm nguyên nhân rút kinh nghiệm phổ biến chung trong đơn vị đề ra biện pháp đề phòng về sau. Điều 10. Nếu công trường cần thiết phải sử dụng điện thì phải áp dụng theo bản quy tắc an toàn về điện. Tổng cục công bố kèm theo bản quy tắc này. Điều 11. Trong lúc làm việc ở trên núi cũng như ở dưới đất, tuyệt đối cấm không được đùa nghịch chạy nhảy lung tung hoặc lấy đá ném nhau, rất nguy hiểm. Điều 12. Khi leo lên, xuống núi cần chú ý: Điều 13. Khi đục choòng cần chú ý: Điều 14. Khi bẩy đá trên núi xuống cần chú ý: Điều 15. Công tác bắn bộc phá hay bắn mìn phải có cán bộ kỹ thuật lãnh đạo, trình độ phải là kỹ thuật viên hay công trình sư, các công tác thực tế như chuyển khí cụ vật liệu, đất thuốc, lượng thuốc v.v... phải phân công cho thợ bộc phá đã được huấn luyện về kỹ thuật thuốc nổ, cán bộ kỹ thuật phải theo sát hướng dẫn kiểm tra kỹ trước cho đúng. Điều 16. Khi nạp thuốc vào lỗ mìn phải có cán bộ lãnh đạo trực tiếp hướng dẫn kiểm tra, công nhân bắn mìn phải tuyệt đối tuân theo sự chỉ huy của cán bộ lãnh đạo để bảo đảm được an toàn. Điều 17. Cắt dây không được kê lên sắt, lên đá, phải kê lên gỗ mềm, không được giơ dao lên chặt, phải dùng dao sắc, cắt nhẹ tay. Cấm không được cho kíp vào đầu dây rồi mới cắt dây. Cấm dùng răng cắn bóp kíp chặt vào dây, phải dùng kìm mà cặp. Điều 18. Nhồi thuốc vào lỗ cấm dùng que sắt, phải dùng que gỗ, tre, để tránh được phát ra lửa nguy hiểm. Xung quanh chỗ nạp mìn không được để các dụng cụ bằng kim khí linh tinh bừa bãi. Điều 19. Thuốc cho vào phía trên kíp lúc nào cũng ít bằng 1/3 phía dưới kíp để tránh được đá khỏi văng xa vào lán trại hoặc vào nhà dân. Khi nạp mìn xong không được dùng đá vụn nêm vào lỗ, chỉ cần đổ một lớp đất độ một tấc là tốt, bắn hết quả. Điều 20. Kíp nổ không được để chung vào gói thuốc hút, không bỏ trong người, không bỏ vào túi áo rồi vứt bừa bãi dưới chân núi hoặc đem phơi nắng. Phải may túi riêng có từng ngăn phân biệt đựng kíp riêng, dây riêng, thuốc cháy riêng, có bao gói cẩn thận. Thuốc nhiều thì có hòm đựng có khóa, để xa chỗ ngủ. Cuối ngày dùng xong nếu còn thừa nhiều trả lại kho, nếu còn thừa ít giao lại cho cán bộ lãnh đạo trực tiếp, không được tự ý đem treo trong phòng ngủ. Điều 21. Trong suốt thời gian sử dụng chất nổ tuyệt đối cấm hút thuốc, cấm đưa lửa tới gần. Điều 22. Cán bộ lãnh đạo trực tiếp phải bố trí người lanh lẹ tháo vát làm công việc đốt mìn, phải nắm vững vị trí và số lượng mìn, phải biết phát mìn vào lúc nào thì sức phá xa hay gần. Điều 23. Phải hướng dẫn cho anh chị em chỗ núp, đường chạy thật bảo đảm, phân công chu đáo người đốt trước, người đốt sau, liên lạc giữa các bộ phận chặt chẽ. Người không có phận sự đi núp trước. Điều 24. Hiệu lệnh bắn mìn phải được phổ biến rộng rãi cho mọi người đều biết để tránh. Khi bắn phải có hiệu lệnh, có người canh gác báo cho anh chị em và nhân dân qua đường, loài vật chú ý tránh. Tuy có hiệu lệnh, có người gác, nhưng trước khi cho bắn mìn, cán bộ lãnh đạo trực tiếp cần phải phân công anh em đi kiểm tra lại các khu vực nguy hiểm một lần nữa để bảo đảm được an toàn. Điều 25. Những lán trại gần tuyến đá, cán bộ lãnh đạo trực tiếp cần phải chú trọng hướng dẫn anh chị em ở nhà trong lán phải tránh xa khi đốt mìn để tránh đá văng vào lán, nguy hiểm. Nghiêm khắc kỷ luật với anh chị em nào không chịu đi núp. Điều 26. Khi đốt mìn cần chú ý: Điều 27. Tuyệt đối không được bắn mìn vào giờ giải lao và lúc trời tối. Đốt mìn xong phải đợi hiệu lệnh chung mới được ra làm việc. Ngày chủ nhật hay trường hợp thiếu đá muốn bắn thêm phải được sự đồng ý và sự phân công của cán bộ lãnh đạo trực tiếp. Lúc bắn mìn, cán bộ lãnh đạo trực tiếp phải ra chỉ huy. Điều 28. Các Ban chỉ huy phải có kế hoạch liên lạc chặt chẽ với nhau lúc nhồi thuốc bắn mìn, giờ giấc phải nhất định, có trường hợp gì bất trắc phải hội ý kịp thời giải quyết để bảo đảm được an toàn. Điều 29. Giải quyết những quả mìn không nổ cần chú ý: Điều 30. Tất cả những đồ dùng, quần áo, tay chân của số anh em làm chất nổ có thể dính nhiều loại thuốc nổ, nên sau khi làm xong phải tắm rửa thật kỹ, quần áo đồ dùng phải giặt, rửa, đem cất một chỗ, khi nào cần làm đến thuốc nổ lại dùng; không nên đưa về để ở nhà ngủ, không nên mặc để làm việc khác, hoặc mặc ngủ để tránh sinh bệnh về sau. Điều 31. Trước khi vào khu vực, cấm khuân đá hộc ra để đập. Cán bộ lãnh đạo trực tiếp phải quan sát kỹ xung quanh cẩn thận, nhắc nhở anh chị em chú ý đề phòng đá rơi. Phải chú ý gác để báo cho anh chị em biết đá rơi mà tránh. Điều 32. Đá hộc phải chuyển ra khỏi phạm vi khu vực cấm, xếp thành hình chữ A, xếp đá tránh xa người đập đá dăm 5 thước, phải tránh đường vận chuyển đá để phòng tai nạn đá văng vào người qua lại. Điều 33. Khi quăng đá hộc phải nhìn trước nhìn sau, báo cho anh chị em ngồi đập đá dăm gần đó tránh xa, không được lăn xuống ẩu trong lúc anh chị em ngồi làm ở dưới, đá phải quăng tập trung có chỗ, không quẳng bừa bãi mỗi nơi một vài hòn để tránh đi lại vấp ngã. Những hòn đá nặng hoặc khó lăn phải dùng xà beng nậy, không được dùng tay mà lăn. Điều 34. Khi đập đá hộc cần chú ý: Điều 35. Đập đá dăm không được ngồi trong khu vực cấm, ngồi quay lưng lại với nhau, không được quay lưng vào chân núi đề phòng đá rơi không thấy mà tránh. Nếu đá hộc còn vương vãi trong khu vực cấm không được vào đó mà ngồi đập. Điều 36. Khi đập đá dăm chú ý ngó vào công việc đề phòng đánh búa vào tay, hoặc đá văng vào mặt. Cán búa phải chắc chắn không lỏng, không tụt, không nứt nẻ, vừa tầm không dài quá. Chú ý che miệng để tránh hít phải bụi đá dễ sinh bệnh. Điều 37. Quang sọt lấy đá phải xếp có thứ tự để tránh được vương bừa, hoặc đi lại dễ bị thương. Điều 38. Gánh đá dăm phải chú ý: Điều 39. Vận chuyển bằng xe thồ cần chú ý: Điều 40. Bốc đá phải bốc trên xuống không được moi sâu ở dưới trước, đề phòng đá trụt. Lúc cắt toa để đẩy, phải báo tin cho anh chị em biết tránh ra khỏi đường ray một thước rồi mới đẩy, lúc xe xuống dốc phải đẩy từ từ, phân công người cầm chèn để chèn lại, khi toa dừng, phải chèn kỹ rồi mới lên toa làm. Tuyệt đối không được ngồi nghỉ ở dưới gầm toa xe. Điều 41. Xả đá cần chú ý:
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.