Quyết định · Bộ Giáo dục và Đào tạo
Quyết định 08/1999/QĐ-BGDDT
Về việc ban hành "Quy chế tuyển sinh vào trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông"
- Tình trạng
- Hết hiệu lực toàn bộ
- Ngày ban hành
- 27/02/1999
- Ngày có hiệu lực
- 14/03/1999
- Hết hiệu lực
- 03/05/2006
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bị sửa đổi, bổ sung bởi (2)
- 21/2005/QĐ-BGD&ĐT — Về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế Tuyển sinh vào trường Trung học cơ sở và trung học phổ thông ban hành theo Quyết định số 08/1999/QĐ-BGD&ĐT ngày 27 tháng 02 năm 1999 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (19/07/2005)
- 08/2001/QĐ-BGDĐT — Về việc sửa đổi điều 6 Quy chế tuyển sinh vào trường trung học cơ sở và trung học phổ thông (30/03/2001)
Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)
- 12/2006/QĐ-BGD — Ban hành Quy chế tuyển sinh trung học cơ sở và tuyển sinh trung học phổ thông (05/04/2006)
Bố cục (34 điều)
Điều 1. Nay ban hành kèm theo Quyết định này bản “Quy chế tuyển sinh vào trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông”. Điều 2. Điều 3. Các Ông (Bà) Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương, Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Trung học phổ thông, Thủ trưởng các đơn vị có liên quan, Hiệu trưởng trường Đại học có khối lớp phổ thông chuyên và Giám đốc các Sở Giáo dục - Đào tạo chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này. Chương I — : Điều 1. Tuyển sinh vào lớp đầu cấp(lớp 6 Trung học cơ sở và lớp 10 Trung học phổ thông) nhằm lựa chọn những học sinh có đủ phẩm chất và năng lực tiếp nhận nội dung và chương trình của cấp học. Điều 2. Căn cứ tuyển sinh bao gồm: Điều 3. Hình thức tuyển sinh bao gồm: thi tuyển và xét tuyển. Điều 4. Phải đảm bảo trung thực, công bằng trong tuyển sinh. Điều 5. Trách nhiệm của các cấp,các cơ quan trong công tác tuyển sinh: Chương II — : Điều 6. Muốn được dự tuyển, học sinh phải có hồ sơ hợp lệ và có đủ các điều kiện sau: Điều 7. Hồ sơ dự tuyển bao gồm: Chương III — : Điều 8. Học sinh được hưởng chế độ ưu tiên bằng hình thức cộng thêm điểm bao gồm: Điều 9. Học sinh được khuyến khích bằng hình thức cộng điểm trong các trường hợp sau: Điều 10. Chế độ ưu tiên, khuyến khích nêu tại Điều 8, 9 không áp dụng cho việc tuyển sinh vào lớp 10 Trung học phổ thông chuyên. Chương IV — : Điều 11. Thi tuyển là một trong hai phương thức được phép lựa chọn để tuyển sinh vào các trường Trung học phổ thông và là kỳ thi bắt buộc để tuyển sinh vào trường Trung học phổ thông chuyên. Điều 12. Trong kỳ thi tuyển, học sinh làm bài thi viết các môn: Điều 13. Sở Giáo dục - Đào tạo chịu trách nhiệm ra đề thi cho các hội đồng thi tuyển của địa phương. Nếu phải thi trong nhiều ngày thì các đề thi phải có mức độ tương đương. Việc làm đề thi và hướng dẫn chấm thi tuyển (chính thức và dự bị) phải đảm bảo đúng chương trình, đúng quy trình, bí mật và an toàn như quy định làm đề thi tốt nghiệp. Điều 14. Việc quy định ngày thi tuyển, cách tổ chức các hội đồng coi thi, chấm thi, phương thức điều chuyển giám thị, giám khảo, chỉ tiêu tuyển sinh của từng trường ở địa phương v.v... do Sở Giáo dục - Đào tạo dự kiến, lập thành phương án, kế hoạch trình Ủy ban nhân dân Tỉnh phê duyệt và thông báo chậm nhất là 2 tháng trước ngày thi. Điều 15. Việc quy định ngày thi tuyển, địa bàn và thể lệ tuyển sinh vào lớp 10 Trung học phổ thông chuyên thuộc trường Đại học do Hiệu trưởng trường Đại học dự kiến, báo cáo Bộ Giáo dục và Đào tạo, thông báo đến các Sở Giáo dục - Đào tạo và trên các phương tiện thông tin đại chúng chậm nhất 2 tháng trước ngày thi. Điều 16. Điều 17. Điều 18. Nguyên tắc tuyển chọn bao gồm: Điều 19. Danh sách học sinh trúng tuyển được cấp có thẩm quyền xét duyệt mới được công bố chính thức: Điều 20. Điểm bài thi tuyển, danh sách học sinh trúng tuyển phải niêm yết công khai tại trường Trung học phổ thông nơi học sinh đăng ký dự tuyển. Trong vòng 30 ngày, kể từ ngày công bố danh sách trúng tuyển, nhà trường trả lại hồ sơ cho học sinh không trúng tuyển. Điều 21. Việc giải quyết khiếu nại trong kỳ thi tuyển thực hiện như quy định trong kỳ thi tốt nghiệp. Chương V — : Điều 22. Xét tuyển là hình thức sử dụng kết quả học tập và thi tốt nghiệp ở cấp học dưới liền kề làm căn cứ chủ yếu lựa chọn học sinh trúng tuyển; Điều 23. Căn cứ xét tuyển học sinh vào lớp 6 Trung học cơ sở bao gồm: Điều 24. Căn cứ xét tuyển học sinh vào lớp 10 Trung học phổ thông không chuyên bao gồm: Điều 25. Học sinh chưa trúng tuyển vào lớp 10 năm học trước (học sinh cũ), muốn dự tuyển phải đăng ký với Sở Giáo dục - Đào tạo 2 tháng trước ngày thi tốt nghiệp Trung học cơ sở và chỉ phải dự thi 2 môn Văn - Tiếng Việt và Toán của kỳ thi đó. Điều 26. Việc xét tuyển học sinh thực hiện theo nguyên tắc quy định tại Điều 18. Điều 27. Mỗi trường Trung học cơ sở (hoặc Trung học phổ thông) lập một Hội đồng xét tuyển học sinh vào lớp 6 (hoặc lớp 10) (gọi tắt là Hội đồng tuyển sinh) gồm Hiệu trưởng làm Chủ tịch, các phó hiệu trưởng làm phó chủ tịch, một số tổ trưởng bộ môn và thư ký hội đồng giáo dục nhà trường làm ủy viên. Điều 28. Sở Giáo dục - Đào tạo lập phương án, kế hoạch xét tuyển gồm các nội dung: thời gian xét tuyển, địa bàn và chỉ tiêu tuyển sinh của mỗi trường, số lượng trường học sinh được phép đăng ký dự tuyển, nguyên tắc điều hòa học sinh giữa các trường trong khu vực, phân cấp xét duyệt danh sách học sinh trúng tuyển vào lớp 6 Trung học cơ sở và lớp 10 Trung học phổ thông... trình Ủy ban nhân dân Tỉnh phê duyệt và thông báo chậm nhất 2 tháng trước ngày tổ chức xét tuyển. Chương VI — : Điều 29. Việc khen thưởng, kỷ luật cán bộ, giáo viên, nhân viên và thí sinh trong kỳ thi tuyển và xét tuyển học sinh vào lớp 6 Trung học cơ sở và lớp 10 Trung học phổ thông thực hiện theo các quy định trong Quy chế thi tốt nghiệp. Điều 30. Trong thời hạn 10 ngày kể từ khi hoàn tất tuyển sinh, Trường Đại học có tuyển học sinh Trung học phổ thông chuyên phải nộp Danh sách học sinh trúng tuyển cùng đề thi và hướng dẫn chấm thi tuyển kèm theo để Bộ duyệt y. Điều 31. Chậm nhất vào ngày 30 tháng 8 hằng năm, các Sở Giáo dục - Đào tạo phải báo cáo về Bộ:
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.