Văn bản

Văn bản 09/NĐ

Về việc ban hành bản thể lệ tạm thời về vận tải đường bộ

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
07/03/1956
Ngày có hiệu lực
22/03/1956
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Được hướng dẫn bởi (1)

Bố cục (45 điều)

Điều 1. Nay ban hành bản Thể lệ tạm thời về vận tải đường bộ.
Điều 2. Các điều khoản trái với bản thể lệ này đều bãi bỏ.
Điều 3. Các ông Chánh văn phòng Bộ Giao thông và bưu điện và Bộ Công an, Giám đốc Nha Giao thông, Giám đốc Vụ Hành chính trị an, Chủ tịch Uỷ ban hành chính các Liên khu Việt Bắc, khu 3, 4, Khu Tả ngạn, Khu Hồng Quảng, Khu tự trị Thái Mèo, Khu vực Vĩnh Linh, thành phố Hà Nội và thành phố Hải phòng chiểu nghị định thi hành.
Điều 1. Để đảm bảo thi hành chính sách vận tải, bảo đảm an toàn vận chuyển, bản thể lệ tạm thời về vận tải đường bộ này quy định:
Điều 2. Tất cả các xe cộ, trừ những loại ghi ở điều 3 dưới đây, của tư nhân cũng như của cơ quan chính quyền, đoàn thể, của công dân Việt Nam, cũng như của ngoại kiều, bất luận để dùng vào việc riêng hay để làm vận tải chuyên nghiệp đều bắt buộc phải đăng ký.
Điều 3. Được miễn không phải đăng ký những xe đạp nhỏ, hay ba bánh của trẻ em, xe cút kít, xe đẩy tay không chở được quá một tạ hàng. Xe đạp loại nhỡ phải đăng ký như xe loại lớn.
Điều 4. Khi đăng ký một xe cộ, chủ xe phải xuất trình:
Điều 5. Xe cộ đã đăng ký đều có số . Khi xe thay đổi chủ, số đăng ký không thay đổi, trừ trường hợp xe cộ của tư nhân bán cho cơ quan hay của cơ quan bán cho tư nhân.
Điều 6. Xe cộ đã đăng ký và khám xét được cấp một giấy chứng nhận quyền sở hữu và được sử dụng ngay, trừ trường hợp xe ô tô phải có thêm giấy phép sử dụng mới được chạy.
Điều 7. Khi xe thay đổi chủ, người mua phải đến trình với cơ quan giao thông hay công an nơi mình cư trú hoặc sử dụng xe chậm nhất là 10 ngày sau ngày mua xe. Trường hợp xe ô tô dùng để kinh doanh vận tải, người bán phải được cơ quan giao thông cho phép mới được bán.
Điều 8. Ngoài hai trường hợp nói ở điều 4 và 7 trên đây và đối với các loại xe phải đăng ký, chủ xe phải khai trình với cơ quan giao thông hay công an về tình trạng xe như sau:
Điều 9. Xe quân sự do cơ quan quân sự đăng ký và cho số riêng.
Điều 10. Tất cả các xe cộ khi đăng ký đều phải khám xét. Xe ô tô, mô tô, xích lô, xích lô máy, xe ngựa dùng làm vận tải chuyên nghiệp trước khi đem dùng vào việc kinh doanh đều phải khám lại dù đã khám khi đăng ký xe.
Điều 11. Cơ quan nào đăng ký thì cơ quan ấy khám xét và cấp giấy phép sử dụng. Riêng các xe cộ dùng để kinh doanh vận tải thì cơ quan giao thông phụ trách khám xét an toàn, trừ xe xích lô trong ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định do công an khám xét.
Điều 12. Xe ô tô và mô tô dùng vào việc riêng, sau khi đã được cấp giấy phép sử dụng hàng năm khám lại một lần.
Điều 13. Chủ xe phải nộp một khoản lệ phí khám xe trong những trường hợp sau đây:
Điều 14. Xe phải vững chắc, các bộ phận, máy móc phải tốt. Xe phải có đủ còi, chuông báo hiệu, hãm, đèn và lúc nào cũng phải được giữ gìn tốt để bảo đảm an toàn cho hành khách và hàng hoá.
Điều 15. Động cơ xe ô tô phải chạy êm. Cấm không dùng động cơ chạy theo lối buông hơi thắng.
Điều 16. Xe đạp, xe xích lô và tất cả các xe cơ giới đều phải có hãm tốt có thể hãm xe trong bất cứ trường hợp nào. Xe đẩy tay hay xe kéo như xe bò, xe ba gác không phải có hãm. Tuy nhiên, ở những vùng có nhiều đồi, dốc, Uỷ ban hành chính tỉnh có thể bắt buộc những loại xe nào lắp những bộ phận hãm vào xe .
Điều 17. Xe xích lô, xe đạp, xe ngựa và tất cả các loại xe cơ giới phải có đèn trắng ở phía trước và một đèn đỏ ở phía sau, đèn đỏ phía sau có thể thay bằng kính màu đỏ phản ánh.
Điều 18. Xe đạp, xe ngựa, xe xích lô phải có chuông, và tất cả các loại xe cơ giới phải có còi. Còi xe ô tô và mô tô phải nghe xa được ít nhất là 100 mét. Cấm không được dùng những còi hét, tiếng kêu inh ỏi làm đinh tai người đi đường và khiến cho súc vật hoảng sợ.
Điều 19. Lái xe mô tô, xích lô máy và xe ô tô bất luận lớn nhỏ bắt buộc phải có bằng lái.
Điều 20. Bằng lái xe phân ra 5 loại:
Điều 21. Lái xe có người chuyên nghiệp sinh sống về nghề lái xe và người không chuyên nghiệp. Căn cứ vào trình độ kỹ thuật lái, chia người lái xe chuyên nghiệp ra làm 3 cấp (cấp1, cấp 2, cấp 3). Tiêu chuẩn các cấp sẽ do Nha Giao thông quy định riêng.
Điều 22. Muốn thi lấy bằng lái xe phải có điều kiện về tuổi như sau:
Điều 23. Sát hạch gồm có những môn dưới đây:
Điều 24. Quân nhân lái xe quân sự do cơ quan quân sự sát hạch và cấp bằng lái. Sau khi giải ngũ, quân nhân muốn đổi bằng lái xe quân sự lấy bằng lái xe dân dụng phải làm đơn xin với cơ quan Giao thông.
Điều 25. Những người lái xe chuyên nghiệp hàng năm phải khám sức khoẻ và có thể xin sát hạch lại để định cấp lại.
Điều 26. Người có bằng lái xe hạng nào chỉ được lái xe loại ấy hay loại dưới. Trong khi lái xe, bằng phải mang luôn trong người. Cấm ngặt không được mượn hay cho mượn bằng lái xe.
Điều 27. Trừ trường hợp ghi ở điều 28 dưới đây, tất cả mọi công dân Việt Nam và ngoại kiều kinh doanh vận tải, bất cứ dưới hình thức nào (cho thuê xe cộ hay chuyên chở thuê) bất luận với xe cộ thô sơ hay là cơ giới, dù là tư doanh, công doanh hay công tư hợp doanh đều phải có giấy phép kinh doanh vận tải.
Điều 28. Được miễn không phải xin phép kinh doanh những người dùng một xe cộ thô sơ như xe bò, xe ba gác; xe đạp hay một con ngựa để chuyên chở thuê, những việc chuyên chở chỉ là nghề phụ, hoạt động một cách thất thường, trong một phạm vi nhỏ hẹp.
Điều 29. Cá nhân hay tổ chức kinh doanh muốn kinh doanh vận tải phải được phép của cơ quan Giao thông trước khi xin đăng ký kinh doanh với cơ quan Công thương.
Điều 30. Việc cấp giấy phép kinh doanh vận tải phân công như sau:
Điều 31. Nếu quá một hạn là 2 tháng kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký mà đương sự không bắt đầu kinh doanh thì giấy phép và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh bị thu hồi trừ trường hợp có lý do chính đáng.
Điều 32. Trong khi kinh doanh người kinh doanh vận tải không được tự ý:
Điều 33. Các nhà kinh doanh vận tải phải có nơi để xe cộ nhất định ở những địa điểm thuận tiện, không gây phiền nhiễu cho nhân dân.
Điều 34. Ngoài người lái xe ra, các xe ô tô dùng để kinh doanh vận tải phải có đủ số phụ lái, công nhân khuân vác như đã ghi trong giấy phép chạy xe.
Điều 35. Xe chở chất nổ như đạn, mìn, kíp,v.v. và chất bắt lửa như xăng, dầu, masout, v.v... phải có tổ chức bảo đảm an toàn và phải có dấu hiệu riêng; xe chạy bằng hơi than tuyệt đối không được chở chất bắt lửa; chất nổ không được cùng chở một chuyến với hành khách. Xe cộ chở chất nổ hay chất bắt lửa, trong khi đi đường cũng như khi đỗ bến, không được đi hay đỗ sát gần những xe cộ khác.
Điều 36. Súc vật như chó, mèo có thể chở cùng một chuyến với hành khách nhưng phải buộc mồm, trói chân tay hay cho vào rọ, lợn không được chở cùng một chuyến với hành khách.
Điều 37. Xe ô tô làm vận tải công cộng phải có nội quy đã được cơ quan giao thông duyệt. Nội quy gồm những điểm sau đây:
Điều 38. Các nhà kinh doanh vận tải phải chấp hành nghiêm chỉnh thể lệ vận tải, giữ đúng nội quy xe, tôn trọng nội quy các bến, tuân theo sự hướng dẫn của cán bộ giao cảnh, chịu sự kiển soát của các cơ quan Giao thông, Công an, Thuế vụ , Hải quan,v.v...
Điều 39. Tùy theo nặng nhẹ, những vi phạm điều lệ vận tải bị trừng phạt như sau:
Điều 40. Những cán bộ và nhân viên sau đây có quyền lập biên bản các vụ vi phạm thể lệ:
Điều 41. Quyền xử lý các vi phạm thể lệ định như sau:
Điều 42. Để sát với hoàn cảnh địa phương và sau khi đã được Bộ Công an và Bộ Giao thông duyệt, Uỷ ban hành chính các thành phố và tỉnh có thể quy định những thể lệ cụ thể về căn bản không trái với bản thể lệ này, để thi hành trong phạm vi thành phố hay tỉnh của mình.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.