Văn bản · Chính phủ

Văn bản 104-CP

Về việc Ban hành Điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩu

Tình trạng
Ngưng hiệu lực
Ngày ban hành
27/06/1964
Ngày có hiệu lực
27/06/1964
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bố cục (23 điều)

Điều 1. Nay ban hành Điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩu kèm theo nghị định này.
Điều 2. Ông Bộ trưởng Bộ Công an chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.
Điều 1. Để tăng cường việc giữ gìn trật tự trị an xã hội phục vụ lợi ích của nhân dân, để giúp vào việc thống kế dân số các vùng trong nước nhằm phục vụ xây dựng và thực hiện các chính sách, kế hoạch của Nhà nước, nay ban hành Điều lệ đăng ký và quản lý hộ khẩu này.
Điều 2. Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, người nước ngoài (trừ trường hợp đã có quy định riêng) và người không có quốc tịch cư trú trên đất nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đều phải chấp hành các quy định của điều lệ này.
Điều 3. Công tác đăng ký và quản lý hộ khẩu do Bộ Công an phụ trách. Các đồn công an ở thành phố, thị xã, thị trấn, các Uỷ ban hành chính xã, thị trấn (nơi không có đồn công an) trực tiếp thi hành việc đăng ký và quản lý hộ khẩu trong phạm vi khu vực mình phụ trách.
Điều 4. Việc đăng ký và quản lý hộ khẩu lấy hộ làm đơn vị. Một hộ gồm những người ăn ở chung với nhau trong một nhà riêng hoặc trong nhà tập thể của cơ quan, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường, trường học. Một người ăn ở riêng một mình cũng kể như một hộ.
Điều 5. Ở thành phố, thị xã, thị trấn thì đồn công an lập sổ hộ khẩu cho từng hộ trong khu vực mình phụ trách . Ở xã , thị trấn (nơi không có đồn công an) thì Uỷ ban hành chính xã, thị trấn lập sổ hộ khẩu cho từng hợp tác xã hoặc cho từng đội sản xuất trong các hợp tác xã quá lớn; ở nơi chưa có hợp tác xã thì lập sổ hộ khẩu cho từng xóm.
Điều 6. Mỗi công dân phải đăng ký là nhân khẩu thường trú trong một hộ nhất định, hộ này là nơi ở thường xuyên của mình.
Điều 7. Khi trong hộ có trẻ em mới sinh, người chủ hộ hoặc một người trong hộ phải đăng ký hộ khẩu cho em đó tại Uỷ ban hành chính sở tại.
Điều 8. Khi trong hộ có người chết, nếu là ở thành phố, thị xã, thị trấn, thì trước lúc mai táng, nếu là ở nông thôn, thì trong thời hạn năm ngày, ngưòi chủ hộ hoặc một người trong hộ phải khai báo tại Uỷ ban hành chính sở tại.
Điều 9. Khi cả hộ hoặc một người trong hộ chuyển chỗ ở trong phạm vi một xã, một thị trấn, một thị xã, một khu phố, một thành phố không chia thành khu phố, thì trước khi di chuyển chủ hộ hoặc đương sự phải báo cho cơ quan quản lý hộ khẩu nơi đó biết.
Điều 10. Khi cả hộ hoặc một người trong hộ, chuyển chỗ ở ra ngoài phạm vi nói ở điều 9 trên đây, thì chủ hộ hoặc đương sự phải lấy giấy "Chứng nhận chuyển đi" của cơ quan quản lý hộ khẩu nơi ở cũ của mình theo thủ tục như sau:
Điều 11. Trong trường hợp chuyển chỗ ở đến một thành phố, thị xã, thì khi đến đăng ký lấy giấy "Chứng nhận chuyển đi", đương sự phải đem theo một trong những giấy tờ sau đây:
Điều 12. Những người bị can án còn chờ xét xử, những người bị án mà chưa bị giam giữ, khi đến làm thủ tục để lấy giấy "Chứng nhận chuyển đi" phải có giấy của Viện kiểm sát nhân dân hay Toà án nhân dân cho phép chuyển chỗ ở.
Điều 13. Những người được tuyển vào quân đội thường trực trước khi nhập ngũ phải đem giấy gọi nhập ngũ đến báo cơ quan quản lý hộ khẩu để xoá tên trong sổ hộ khẩu.
Điều 14. Khi chuyển chỗ ở đến nơi mới, nếu là thành phố, thị xã, thị trấn thì trong thời hạn 3 ngày, nếu là ở nông thôn thì trong thời hạn năm ngày, người chủ hộ hoặc đương sự phải mang giấy "Chứng nhận chuyển đi" đến đăng ký tại cơ quan quản lý hộ khẩu sở tại.
Điều 15. Khi có người ở địa phương khác (không kể những người ở cùng trong một xã, một thị trấn, một thị xã, một thành phố) tới tạm trú lại ban đêm trong hộ thì người chủ hộ hoặc một người trong hộ phải báo cho cơ quan quản lý hộ khẩu sở tại biét trong thời hạn do Bộ Công an quy định riêng cho từng vùng.
Điều 16. Thời hạn tạm trú ở thành phố, thị xã nhiều nhất là ba tháng. Hết hạn ấy, nếu cần ở lại thêm thì đương sự phải xin gia hạn tại cơ quan quản lý hộ khẩu sở tại.
Điều 17. Khi có những sự thay đổi số người trong hộ như: kết hôn, ly dị, trong hộ có người đi mất tích, chia một hộ ra nhiều hộ, hợp nhiều hộ thành một hộ v,v... thì chủ hộ hoặc một người trong hộ báo với cơ quan quản lý hộ khẩu sở tại để đăng ký những sự thay đổi ấy.
Điều 18. Khi cần sửa đổi hoặc đính chính những điều ghi trong sổ hộ khẩu như: họ, tên, tuổi, nghề nghiệp ... thì chủ hộ hoặc một người trong hộ báo với cơ quan quản lý hộ khẩu sở tại để cơ quan này thẩm tra và sửa chữa trong sổ hộ khẩu. Không người nào, cơ quan nào được tự tiện ghi thêm, tẩy xoá hoặc sửa chữa vào sổ hộ khẩu.
Điều 19. Mẫu sổ hộ khẩu và mẫu các giấy chứng nhận về quản lý hộ khẩu do Bộ Công an quy định.
Điều 20. Người nào vi phạm các thủ tục về đăng ký và quản lý hộ khẩu sẽ bị xử phạt theo điều lệ quản lý trị an.
Điều 21. Điều lệ này thi hành kể từ ngày ban hành. Những điều quy định trước đây trái với điều lệ này đều bãi bỏ.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.