Văn bản
Văn bản 1251-QĐ
Về việc ban hành Quy chế trường bổ túc văn hoá tại chức ở nông thôn
- Tình trạng
- Hết hiệu lực toàn bộ
- Ngày ban hành
- 03/12/1973
- Ngày có hiệu lực
- 03/12/1973
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bố cục (28 điều)
Điều 1. Ban hành bản quy chế "Trường bổ túc văn hoá tại chức ở nông thôn" (đính kèm theo Quyết định này). Điều 2. Các ông Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Bổ túc văn hoá, Vụ trưởng Vụ tổ chức cán bộ, Vụ trưởng Vụ kế hoạch tài vụ Bộ Giáo dục, các ông Giám đốc Sở và Trưởng ty Giáo dục chịu trách nhiệm thi hành quyết định này. Chương I — MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG CỦA TRƯỜNG Điều 1. Mục đích của trường bổ túc văn hoá tại chức ở nông thôn là: từng bước nâng cao trình độ văn hoá cho cán bộ, thanh niên và nhân dân lao động; làm cơ sở cho việc học tập chính trị, khoa học kỹ thuật có kết quả để phục vụ trực tiếp công tác, sản xuất, chiến đấu tốt hơn. Điều 2. Đối tượng của trường bổ túc văn hoá tại chức ở nông thôn bao gồm cán bộ, đảng viên, đoàn viên, thanh niên, xã viên hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã thủ công nghiệp và học sinh phổ thông đã trở về tham gia sản xuất có nhu cầu học tập. Chương II — CHƯƠNG TRÌNH HỌC Điều 3. Các trường bổ túc văn hoá tại chức ở nông thôn đều dạy theo chương trình và sách giáo khoa bổ túc văn hoá do Bộ Giáo dục quy định; không được tuỳ tiện thay đổi. Đối với đối tượng trẻ có yêu cầu đào tạo thì học chương trình có hệ thống; đối với cán bộ, đảng viên và xã viên trên dưới 40 tuổi, khả năng tiếp thu văn hoá, khoa học kỹ thuật có khó khăn thì học chương trình hệ bồi dưỡng. Chương III — TỔ CHỨC TRƯỜNG LỚP VÀ CHẾ ĐỘ HỌC TẬP Điều 4. Trường bổ túc văn hoá tại chức ở nông thôn tổ chức theo đơn vị xã và do Uỷ ban hành chính xã quản lý. Việc thành lập trường phải do Uỷ ban hành chính huyện cho phép và ra quyết định công nhận đối với trường cấp I, II; Uỷ ban hành chính tỉnh cho phép và ra quyết định thành lập đối với trường cấp III. Phòng giáo dục huyện và Sở, Ty giáo dục giúp uỷ ban hành chính xét duyệt và hướng dẫn về quy chế tổ chức, hoạt động chuyên môn. Điều 5. Những tiêu chuẩn để công nhận là một trường bổ túc văn hoá tại chức ở nông thôn: Điều 6. Tên gọi các trường và chế độ học tập: Chương IV — TỔ CHỨC, QUẢN LÝ, KIỂM TRA, BÁO CÁO Điều 7. Mỗi trường bổ túc văn hoá tại chức ở nông thôn phải có một ban giám hiệu gồm 3 người: 1 hiệu trưởng, 1 hiệu phó và 1 uỷ viên. Điều 8. Nhiệm vụ của Hiệu trưởng, Hiệu phó và Uỷ viên: Điều 9. Hội đồng giáo viên: Điều 10. Các tổ chức khác trong nhà trường. Chương V — GIÁO VIÊN Điều 11. Giáo viên dạy trường bổ túc văn hoá tại chức ở nông thôn gồm: giáo viên chuyên trách, giáo viên nghiệp dư chuyên môn hoá, giáo viên phổ thông tham gia dạy bổ túc văn hoá và những người có trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật khác ở cơ sở đều phải đạt những tiêu chuẩn chung sau đây: Điều 12. Trước khi khai giảng năm học, uỷ ban hành chính xã phải xem xét bố trí lại đội ngũ giáo viên cho nhà trường theo đúng tiêu chuẩn nói trong điều 11, lập danh sách gửi cho Phòng giáo dục huyện xét duyệt; đối với giáo viên cấp III do Ty giáo dục xét duyệt. Trong năm học, nếu cần thay đổi giáo viên, thì cũng phải được cơ quan xét duyệt đồng ý. Điều 13. Tất cả các giáo viên có nhiệm vụ giảng dạy tốt bộ môn được phân công, phải thực hiện đầy đủ các khâu liên hoàn của công tác giảng dạy (soạn, giảng, chấm, làm đồ dùng dạy học, phụ đạo), tham gia đầy đủ các lớp học hay hội nghị về chuyên môn (kể cả các buổi sinh hoạt chuyên môn thường kỳ của nhóm, tổ giáo viên và hội đồng nhà trường), phải có hồ sơ giảng dạy (sách giáo khoa, giáo án, kế hoạch giảng dạy, đồ dùng dạy học, những sổ sách cần thiết). Cụ thể mỗi giáo viên phải: Điều 14. Chế độ, chính sách đối với giáo viên. Chương VI — HỌC VIÊN Điều 15. Học viên phải luôn luôn xác định mục đích chính của việc học bổ túc văn hoá nâng cao trình độ văn hoá nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải tiến kỹ thuật, cải tiến công tác quản lý ở nông thôn. Học viên phải tự giác xem việc đi học bổ túc văn hoá không những là một quyền lợi, mà còn là một nghĩa vụ đối với Tổ quốc, nhất là các cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên. Vì vậy, học viên phải cố gắng khắc phục khó khăn để thường xuyên đi học đều đặn, học đầy đủ chương trình, thực hiện đúng nội quy, kế hoạch học tập của nhà trường, đóng học phí đầy đủ và tích cực tham gia xây dựng nhà trường về mọi mặt. Điều 16. Học viên muốn vào học lớp nào phải nạp đủ giấy tờ cần thiết, chứng thực lớp học hoặc cấp học đã học qua. Trường hợp cần thiết, nhà trường có thể tổ chức kiểm tra trình độ văn hoá, sắp xếp vào các lớp cho đúng trình độ. Điều 17. Mỗi học viên phải có một học bạ, hàng năm học bạ phải được ghi đầy đủ kết quả và thành tích học tập, thực hành khoa học, kỹ thuật, đồng thời có ý kiến nhận xét chung của giáo viên chủ nhiệm. Chương VII — KIỂM TRA LÊN LỚP VÀ THI HẾT CẤP Điều 18. Để đảm bảo cho học viên học tập kết quả và tiến lên vững chắc, nhà trường phải tổ chức việc kiểm tra lên lớp và tổ chức thi hết cấp chặt chẽ và kịp thời theo quy chế của Bộ Giáo dục. Điều 19. Điều kiện lên lớp và thi hết cấp: Chương VIII — KHEN THƯỞNG - KỶ LUẬT Điều 20. Các trường bổ túc văn hoá tại chức nông thôn cần tích cực đẩy mạnh phong trào thi đua "Hai tốt" (giảng dạy tốt, học tập tốt) trong toàn trường, phấn đấu xây dựng nhà trường đạt danh hiệu "Trường bổ túc văn hoá tiên tiến" theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục. Các trường có thành tích thực hiện tốt bản quy chế đều được xét khen thưởng thích đáng. Điều 21. Trường nào không thực hiện đúng bản quy chế thì tuỳ theo khuyết điểm ít hay nhiều sẽ bị phê bình, khiển trách hoặc huỷ bỏ việc công nhận trường. Riêng việc huỷ bỏ công nhận trường do uỷ ban hành chính cho phép thành lập trường quyết định. Chương IX — TÀI CHÍNH VÀ CƠ SỞ VẬT CHẤT Điều 22. Kinh phí của trường bổ túc văn hoá tại chức nông thôn chủ yếu là nguồn thu học phí của học viên đóng hàng tháng hoặc từng vụ. Ngoài khoản thu học phí còn có những khoản trợ cấp cho bổ túc văn hoá lấy ở quỹ công ích của hợp tác xã (chỉ thị 110/CP ngày 13-7-1968 của Hội đồng Chính phủ và Thông tư 186-TTg ngày 2-7-1971 của Thủ tướng Chính phủ) hoặc tiền thu hoạch do tổ chức lao động sản xuất, thực nghiệm, ngân sách xã. Điều 23. Các khoản thu ghi ở Điều 22 chỉ dùng để chi cho những việc sau đây: Điều 24. Việc thu chi phải có biên lai, sổ sách thu chi đúng nguyên tắc tài chính. Kế hoạch thu chi phải được tập thể ban giám hiệu thông qua. Phải thực hiện đúng nguyên tắc quản lý tiền mặt. Cuối học kỳ và cuối năm học, người phụ trách tài chính phải báo cáo công khai tình hình thu, chi trước hội đồng nhà trường, báo cáo với uỷ ban hành chính xã và phòng Giáo dục huyện, đồng thời, lên bảng tài chính công khai cho toàn trường biết. Điều 25. Cơ sở vật chất trường bổ túc văn hoá tại chức nông thôn cần được xây dựng, quản lý chu đáo, chặt chẽ. Nếu có điều kiện thì phấn đấu xây dựng cơ sở vật chất riêng, nhất là các lớp học của cán bộ (trường sở, bàn, ghế, đồ dùng dạy học, khu vực thí nghiệm, thực hành chăn nuôi, trồng trọt...). Phải có sổ sách ghi đầy đủ các tài sản chung của trường, thường kỳ kiểm kê, có biện pháp xử lý thích đáng các tài sản bị tiêu hao hoặc mất mát. Biện pháp này được quy định theo Nghị định số 49-CP ngày 9-4-1968 của Hội đồng Chính phủ và Thông tư số 128-TT/LB ngày 24-7-1968 của Liên Bộ Tài chính - Lao động - Công đoàn và văn bản bổ sung số 148/KHTV ngày 7-6-1968 của Bộ Giáo dục. Chương X — THỰC HIỆN Điều 26. Bản quy chế này có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Các quy định trước đây trái với quy chế này đều không có giá trị.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.