Quyết định · BTM

Quyết định 1291/1998/QĐ-BTM

về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng quỹ thưởng xuất khẩu

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
28/10/1998
Ngày có hiệu lực
28/10/1998
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bố cục (18 điều)

Điều 1. - Ban hành Quy chế quản lý và sử dụng Quỹ thưởng xuất khẩu kèm theo Quyết định này.
Điều 2. - Các cơ quan chức năng của Bộ Thương mại và của các Bộ, Ngành có liên quan và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Điều 3. - Quyết định này có hiệu lực thi hành cho việc khen thưởng thành tích trong hoạt động xuất khẩu từ năm 1998.
Điều 1. - Quỹ thưởng xuất khẩu được thành lập theo Quyết định số 764/QĐ-TTg ngày 24-8-1998 của Thủ tướng Chính phủ nhằm khen thưởng động viên và khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh có thành tích xuất sắc, đạt hiệu quả cao trong hoạt động xuất khẩu.
Điều 2. - Quỹ thưởng xuất khẩu do Ngân sách Nhà nước cấp trong dự toán chi hàng năm, bằng 5% tổng số thu của năm trước các loại lệ phí sau:
Điều 3. - Quỹ thưởng xuất khẩu được gửi lên tài khoản riêng tại Kho bạc Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Thương mại trực tiếp quản lý Quỹ thưởng xuất khẩu, xét và quyết định khen thưởng cho các doanh nghiệp theo Quy chế này.
Điều 4. - Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật: doanh nghiệp Nhà nước, Công ty cổ phần, Hợp tác xã, Công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân có thành tích xuất khẩu xuất sắc, hiệu quả cao đạt tiêu chuẩn quy định tại Điều 5 dưới đây đều được xét khen thưởng theo quy chế này.
Điều 5. - Tiêu chuẩn xét khen thưởng:
Điều 6. - Hình thức khen thưởng và mức khen thưởng:
Điều 7. - Doanh nghiệp được thưởng phải chuyển số tiền được thưởng vào quỹ khen thưởng của đơn vị và quyền sử dụng tiền thưởng để phát triển kinh doanh và/ hoặc phân chia tiền thưởng của mình cho các tập thể, cá nhân trong và ngoài đơn vị (kể cả tập thể, cá nhân trong các cơ quan đại diện và thương vụ của Việt Nam ở nước ngoài) có công sức, đóng góp thành tích chung. Trường hợp, tập thể cá nhân nêu trên có thành tích đặc biệt xuất sắc, doanh nghiệp có thể đề nghị Bộ Thương mại xét thưởng bổ sung để có điều kiện thưởng xứng đáng cho các tập thể cá nhân đó.
Điều 8. - Căn cứ tiêu chuẩn quy định theo Quy chế này, doanh nghiệp đề nghị xét khen thưởng gửi đến Bộ Thương mại hồ sơ gồm những văn bản sau:
Điều 9. - Để giúp Bộ trưởng Bộ Thương mại xem xét quyết định việc khen thưởng có Hội đồng xét thưởng gồm:
Điều 10. - Căn cứ báo cáo đề nghị xét thưởng của doanh nghiệp, Hội đồng xét thưởng có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu với số liệu thống kê của Hải quan để xem xét và kiến nghị Bộ trưởng Bộ Thương mại quyết định khen thưởng cho từng doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn quy định.
Điều 11. - Việc xét thưởng được tiến hành trong quý II/hàng năm. Riêng việc xét thưởng thành tích về chất lượng hàng xuất khẩu theo quy định theo điểm 5.4 (Điều 5) được tiến hành sau khi nhận được báo cáo đề nghị xét thưởng của doanh nghiệp.
Điều 12. - Các Quyết định khen thưởng của Bộ trưởng Bộ Thương mại được công bố công khai trên Báo Thương mại.
Điều 13. - Hàng năm, trong tháng 01, ngân sách Nhà nước cấp 50% dự toán chi cho Quỹ thưởng xuất khẩu; trong quý II, ngân sách cấp số còn lại cho đủ 5% tính trên số thực thu của năm trước từ các nguồn quy định tại Điều 2. Quỹ thưởng của năm trước chưa sử dụng hết được giữ lại tiếp tục sử dụng cho năm sau.
Điều 14. - Kho bạc Nhà nước nơi mở tài khoản tiền gửi về Quỹ thưởng xuất khẩu được trích từ tài khoản này chuyển vào tài khoản của doanh nghiệp theo lệnh chuyển tiền của chủ tài khoản kèm theo Quyết định khen thưởng của Bộ trưởng Bộ Thương mại.
Điều 15. - Quy chế này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ban hành và áp dụng cho việc khen thưởng thành tích trong hoạt động xuất khẩu từ năm 1998.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.