Văn bản
Văn bản 13/UBXD
Về việc ban hành Quy chế bảo hành xây lắp công trình
- Tình trạng
- Hết hiệu lực toàn bộ
- Ngày ban hành
- 17/01/1986
- Ngày có hiệu lực
- 01/02/1986
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bố cục (17 điều)
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này "Quy chế bảo hành xây lắp công trình". Điều 3. Bản quy chế này có hiệu lực từ ngày 1-2-1986. Điều 1. Quy chế bảo hành xây lắp công trình là văn bản quy định trách nhiệm của các tổ chức nhận thầu xây lắp (quốc doanh, hợp tác xã, tập đoàn ...). Đối với việc bảo hành chất lượng công trình trong một thời gian được quy định, nhằm thực hiện Điều 35 (về chế độ bảo hành) của Điều lệ quản lý xây dựng cơ bản ban hành kèm theo Nghị định 23/C P ngày 6-6-1981 của Hội đồng Chính phủ và góp phần xoá bỏ dần cơ chế quản lý hành chính bao cấp trong ngành xây dựng. Điều 2. Tất cả các công trình (hạng mục công trình) xây dựng xong, đủ điều kiện đưa vào sản xuất sử dụng đều phải có thời hạn bảo hành. Các tổ chức nhận thầu xây lắp phải thực hiện chế độ bảo hành đối với công trình (hạng mục công trình) do mình đảm nhiệm thi công xây lắp. Điều 3. Chỉ những công trình (hạng mục công trình) đã được nghiệm thu bàn giao đúng thủ tục có đầy đủ hồ sơ hoàn công, hồ sơ nghiệm thu bàn giao theo quy định mới có giá trị bảo hành. Điều 4. Thời hạn bảo hành là thời gian cần thiết để công trình và thiết bị lắp đặt vận hành ổn định, đạt các chỉ tiêu, các thông số kỹ thuật chủ yếu theo yêu cầu thiết kế công trình. Điều 5. Căn cứ vào tiêu chuẩn Nhà nước 2748-78 về phân cấp công trình và quy định chung về thời hạn bảo hành trong văn bản này các ngành cần tiến hành phân cấp và xác định cấp công trình (đối với các loại công trình chưa được phân cấp) và cụ thể hoá thời hạn bảo hành cho mỗi loại công trình của ngành mình nhưng không được thấp hơn thời hạn đã quy định trong Điều 4. Điều 6. Khi công trình (hạng mục công trình) phát sinh hư hỏng trong giai đoạn bảo hành thì: Điều 7. Trường hợp hư hỏng nghiêm trọng mà chưa rõ nguyên nhân hoặc có sự bất đồng giữa hai bên về nguyên nhân, mức độ hư hỏng mà không giải quyết được thì yêu cầu cơ quan giám định xây dựng Nhà nước làm trọng tài giải quyết. Điều 8. Việc sửa chữa phải bảo đảm chất lượng, bảo đảm thời gian như tiến độ quy định trong biên bản đã lập giữa các bên khi công trình xuất hiện hư hỏng. Điều 9. Trường hợp tổ chức nhận thầu xây lắp không còn tồn tại, nếu do sát nhập thì tổ chức nào tiếp nhận, quản lý tổ chức này nếu do tách ra thành nhiều tổ chức xây lắp hay giải thể thì tổ chức đã ra quyết định tách ra hay giải thể phải chịu trách nhiệm giải quyết những hư hỏng đã phát sinh trong thời gian bảo hành. Điều 10. Thời điểm bắt đầu bảo hành tính từ ngày công trình (hạng mục công trình, dây chuyển công nghệ v.v...) được bàn giao giữa tổ chức nhận thầu xây lắp và chủ đầu tư đưa công trình (hạng mục công trình ...) vào sản xuất sử dụng. Nếu công trình (hạng mục công trình...) chưa đưa vào sử sản xuất sử dụng vì những nguyên nhân không phải do các tổ chức nhận thầu xây lắp gây nên thì thời điểm bắt đầu bảo hành vẫn tính từ ngày ký biên bản bàn giao. Điều 11. Trường hợp khi bàn giao công trình (hạng mục công trình ... ) vẫn còn có những phần cần xử lý hoặc hoàn thiện thì tổ chức nhận thầu xây lắp phải khẩn trương hoàn thành và thời điểm bắt đầu bảo hành chỉ được tính từ ngày ban phúc tra những tồn tại ký biên bản chấp nhận. Điều 12. Thời hạn bảo hành được kết thúc là thời điểm tính đến 24 giờ ngày cuối cùng của thời hạn bảo hành. Điều 13. Trường hợp sau thời hạn bảo hành công trình mới phát sinh sự cố do việc thi công có sai phạm lớn về kỹ thuật, làm giảm sút nghiêm trọng chất lượng, gây hư hỏng nặng hay sập đổ công trình thì tổ chức nhận thầu xây lắp vẫn phải có trách nhiệm bôì thường thiệt hại và tuỳ theo mức độ có thể bị truy tố trước pháp luật. Điều 14. Quy chế bảo hành công trình áp dụng cho tất cả các loại công trình xây dựng trong khu vực quốc doanh và tập thể. Điều 15. Bản Quy chế này áp dụng từ ngày 1-1-1986.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.