Văn bản

Văn bản 136/CT

Về việc ban hành Quy chế hoạt động của cảng hàng không dân dụng quốc tế

Tình trạng
Còn hiệu lực
Ngày ban hành
06/05/1988
Ngày có hiệu lực
06/05/1988
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bố cục (28 điều)

Điều 1. - Nay ban hành kèm theo Quyết định này bản Quy chế hoạt động của cảng hàng không dân dụng quốc tế.
Điều 2. - Bản Quy chế này áp dụng ở sân bay quốc tế Thủ đô và các sân bay quốc tế khác của Việt Nam.
Điều 3. - Tổng thư ký Hội đồng Bộ trưởng, Tổng cục trưởng Tổng cục hàng không dân dụng, các Bộ, các ngành và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh và thành phố có liên quan thi hành Quyết định này.
Điều 1. - Cảng hàng không là khu vực được quy định trên mặt đất, được trang bị để máy bay hạ cánh, cất cánh và đỗ lại. Nó bao gồm nhà ga, đường băng, sân đỗ, kho tiếp nhiên liệu, kho hàng hoá xuất nhập khẩu, các trang thiết bị và cơ sở vật chất kỹ thuật để bảo đảm kỹ thuật cho máy bay... Mặt bằng phạm vi cảng hàng không và tất cả cơ sở vật chất kỹ thuật ấy (trừ những trang thiết bị chuyên dùng của các ngành khác) đều đặt dưới sự quản lý khai thác của Tổng cục Hàng không dân dụng.
Điều 2. - Cảng hàng không dân dụng quốc tế là nơi thực hiện các chuyến bay quốc tế, tiếp nhận và khởi hành hành khách, hành lý, hàng hoá, bưu kiện, bưu phẩm trên các chuyến bây của nước ngoài hoặc Việt Nam.
Điều 3. - Tại cảng hàng không quốc tế có thiết lập sự kiểm tra, kiểm soát người, hành lý, hàng hoá, bưu kiện, bưu phẩm và phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh theo pháp luật ở một cửa khẩu quốc gia. Mỗi cơ quan phải thực hiện nhiệm vụ, chức năng của ngành mình theo pháp luật quy định, đồng thời phải phối hợp chặt chẽ với nhau để thực hiện mọi đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước tại cảng hàng không dân dụng quốc tế. Giám đốc cảng hàng không dân dụng quốc tế là người chủ trì phối hợp kế hoạch công tác và tạo điều kiện thuận lợi để các cơ quan hữu quan thực hiện đúng chức năng của mình, nhằm bảo đảm đúng pháp luật, an toàn, thuận tiện cho hành khách và đúng hành trình các chuyến bay quốc tế.
Điều 4. - Hành khách nhập cảnh, xuất cảnh qua cảng hàng không quốc tế phải chấp hành pháp luật, chính sách, chế độ, thể lệ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quy ước quốc tế, phải làm các thủ tục về khai báo, xuất trình giấy tờ về người, hành lý, hàng hoá và phải chịu sự kiểm tra, kiểm soát của an ninh cửa khẩu và hải quan.
Điều 5.
Điều 6. - Người nước ngoài hoặc công dân Việt Nam đến đón khách, tiễn khách, nhận hoặc gửi hàng hoá ở cảng hàng không dân dụng quốc tế chỉ được đi lại trong khu vực quy định, trường hợp đặc biệt muốn ra cầu thang máy bay hoặc ra ngoài khu vực quy định phải có giấy phép của Giám đốc cảng hàng không quốc tế, có sự đồng ý của an ninh cửa khẩu. Khi đi lại ở khu vực sân đỗ, phải tuân theo sự hướng dẫn của lực lượng bảo vệ.
Điều 7. - Đại diện hàng không các nước muốn ra sân đỗ phải có giấy phép của Giám đốc cảng hàng không quốc tế, có sự đồng ý của an ninh cửa khẩu.
Điều 8. - Điều 6 không áp dụng đối với những người đón, tiễn các đoàn khách của Đảng và Chính phủ. Cơ quan đón, tiễn phải có sự thoả thuận trước với Giám đốc cảng hàng không quốc tế và an ninh cửa khẩu.
Điều 9. - Máy bay nước ngoài khi thực hiện chuyến bay quốc tế đến Việt Nam phải thực hiện đúng những điều đã quy định của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về bay đến, bay đi và đỗ lại ở cảng hàng không dân dụng quốc tế.
Điều 10. - Máy bay Việt Nam khi thực hiện chuyến bay quốc tế phải thông qua các thủ tục xuất cảnh và nhập cảnh. Khi đi, khi về phải qua cửa khẩu xuất, nhập cảnh và phải chịu sự kiểm soát và giám sát của hải quan và an ninh cửa khẩu.
Điều 11. - Nhân viên tổ bay nước ngoài và Việt Nam khi xuất cảnh, nhập cảnh phải có đủ giấy tờ hợp lệ. Trong thời gian lưu lại ở cảng hàng không quốc tế, nhân viên tổ bay nước ngoài được sự giúp đỡ của nhà chức trách cảng hàng không, phải chấp hành pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Họ được tiến hành các hoạt động hàng không dân dụng, yêu cầu nhà chức trách hàng không cung cấp các dịch vụ cần thiết để bảo đảm cho máy bay cất cánh an toàn và đúng giờ quy định.
Điều 12. - Tổ chức hàng không dân dụng có trách nhiệm:
Điều 13. - Hải quan có trách nhiệm:
Điều 14. - An ninh cửa khẩu có trách nhiệm:
Điều 15. - Các tổ chức dịch vụ như thông tin bưu điện, quầy đổi ngoại tệ, thu mua hàng hoá, bán hàng lưu niệm, cửa hàng ăn uống, khách sạn quá cảnh, phương tiện đi lại giữa sân bay và thành phố, giao nhận hàng hoá, hành lý cho hành khách.
Điều 16. - Chỉ có các phương tiện chuyên dùng phục vụ máy bay của cơ quan hàng không dân dụng (có phù hiệu) mới được ra vào khu vực sân đỗ máy bay và các khu vực cần thiết khác.
Điều 17. - Quy trình giải quyết thủ tục đi và đến cho hành khách theo thứ tự như sau:
Điều 18. - Mỗi cơ quan ở cảng hàng không dân dụng quốc tế được quy định khu vực làm việc hợp lý phù hợp với mặt bằng nhà ga và nhiệm vụ công việc. Việc lắp đặt thiết bị chuyên dùng phải được sự nhất trí của Giám đốc cảng hàng không.
Điều 19. - Mỗi cơ quan chịu trách nhiệm quản lý chặt chẽ nội bộ của mình, thi hành đúng chức trách, nhiệm vụ của ngành, đồng thời phối hợp và giúp đỡ lẫn nhau. Mỗi cơ quan, không được vì thi hành nhiệm vụ của ngành mình mà làm phương hại đến các chính sách và phạm vi chức trách của ngành khác.
Điều 20. - Việc dừng lại hoặc đình chỉ một chuyến bay do Giám đốc cảng hàng không quốc tế ra lệnh sau khi đã tham khảo ý kiến ngành khác có liên quan, Giám đốc chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Bình thường cơ quan Hải quan và An ninh cửa khẩu chỉ giữ lại những cá nhân hoặc hàng hoá vi phạm luật lệ hải quan và quy chế an ninh cửa khẩu. Trường hợp có dấu hiệu vi phạm đến an ninh quốc gia thì thực hiện theo chương II, điều 13 Pháp lệnh về lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam số 1-LCT/HĐNN8 của Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 2-11-1987. Trường hợp có dấu hiệu máy bay giấu giếm hàng phạm pháp lớn, thì thực hiện theo chương II điều 4 Điều lệ Hải quan ban hành theo Nghị định số 3-CP ngày 27-2-1069 của Hội đồng Chính phủ.
Điều 21. - Khi tiếp xúc với hành khách, bất kể là người Việt Nam hay người nước ngoài, cán bộ và nhân viên làm việc tại cảng hàng không dân dụng quốc tế phải có thái độ khẩn trương, vui vẻ, hoà nhã. Tuyệt đối cấm nhận của khách một thứ gì. Lãnh đạo mỗi ngành phải chịu trách nhiệm về thái độ và hành động của cán bộ, nhân viên ngành mình, và phải xử lý nghiêm khắc khi xảy ra, kể cả việc đưa ra khỏi dây chuyền nếu thấy ảnh hưởng xấu đến cảng hàng không quốc tế.
Điều 22. - Quy chế này áp dụng cho tất cả hành khách, hàng hoá, máy bay và nhân viên tổ bay xuất cảnh, nhập cảnh và quá cảnh qua cảng hàng không dân dụng quốc tế. Tất cả các cán bộ, nhân viên ngành hàng không dân dụng và các ngành khác làm việc và có mặt tại cảng hàng không quốc tế phải tuân theo Quy chế này.
Điều 23. - Mỗi ngành, theo chức năng và nhiệm vụ của ngành mình, có một bản quy chế riêng cho cán bộ, nhân viên trong ngành. Quy chế đó không được trái với Quy chế này và phải gửi cho Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng và các ngành liên quan biết.
Điều 24. - Ai phạm những điều đã quy định trong Quy chế này sẽ tuỳ theo mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính. Nếu vi phạm nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến chính sách và lợi ích của Nhà nước có thể bị truy tố trước pháp luật.
Điều 25. - Quy chế này thi hành kể từ ngày ký.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.