Văn bản · Bộ Tài chính

Văn bản 139-BTC

Về việc đặt một thứ thuế đặc biệt đánh vào các cuộc mua vui công cộng

Tình trạng
Còn hiệu lực
Ngày ban hành
07/01/1946
Ngày có hiệu lực
22/01/1946
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bố cục (17 điều)

Điều 1. Thuế kẻ khó 10% và thuế đặc biệt 50% nay bãi bỏ.
Điều 2. Kể từ ngày mùng 1 tháng 1 năm 1946, ở toàn cõi Việt Nam, đặt một thứ thuế riêng đánh vào những người đến mua vui trong những cuộc du hí công cộng: rạp hát, rạp xiếc, rạp chiếu bóng, tiệm khiêu vũ, nhà ả đào (cô đầu), cuộc đua ngựa ...
Điều 3. Được miễn không phải nộp thuế này:
Điều 4. Thuế thu vào các rạp hát tính là 15% giá tiền vé bán cho công chúng.
Điều 5. Những gánh hát hay gánh xiếc rong ghé qua từng tỉnh trong một thời hạn ngắn và những buổi diễn bất thường do một nhóm nghệ sĩ hay một đoàn thể tổ chức cũng phả trả thuế trước khi diễn. Thuế 15% sẽ tính theo số và giá các chỗ ngồi dành cho công chúng nhân với số các buổi diễn.
Điều 6. Thuế thu vào các rạp chiếu bóng cũng theo thể thức như nói trong Điều 4 và Điều 5 trên đây, nhưng thuế biểu định là 25% giá tiền vé bán cho công chúng.
Điều 7. Thuế thu vào các tiệm khiêu vũ định là 35% số tiền thu được (chưa kể tiền thuế). Thuế mỗi tháng căn cứ vào số tiền thu được tháng trước ghi trong sổ kế toán và có bản sao phiếu thu tiền minh chứng. Nếu không có sổ sách rõ ràng hay không đáng tin, thuế sẽ đánh theo lối bao biện căn cứ vào số trung bình hàng ngày nhân với 30 ngày.
Điều 8. Những tiệm ăn, các hàng cà phê, quán rượu, hàng bánh kẹo, các tiệm giải khát hay phòng trà, nếu có phòng khiêu vũ, cũng phải chịu thuế này tính theo 35% số tiền tổng thu trong cửa hàng, không phân biệt là khách chỉ đến ăn uống, hay khách đến khiêu vũ.
Điều 9. Những cuộc ca vũ, khiêu vũ công cộng hay khiêu vũ bất thường tổ chức vào dịp chợ phiên hay khánh tiết nào mà không có mục đích cứu tế hay tính cách công ích, cũng đều phải theo như thể thức nói trong Điều 7 và Điều 8 trên đây.
Điều 10. Thuế thu vào các nhà ả đào tính theo số ả đào và ca nữ trong nhà.
Điều 11. Về cuộc đua ngựa, thuế biểu định 100% thêm vào giá vé vào cửa và ít nhất là 1Đ (dù giá vé dưới 1Đ).
Điều 12. Trong mỗi thành phố hay tỉnh, kiểm soát viên thuế trực thu kiểm soát thuế này. Bất cứ lúc nào, những viên ấy cũng có thể yêu sách các người tổ chức cuộc du hí đưa trình các sổ sách kế toán, sổ bán vé hay sổ phiếu thu tiền , và đòi hỏi các điều cần thiết trong việc tính thuế.
Điều 13. Mỗi tháng kiểm soát viên tính thuế và gửi cho người chủ tiệm hay người đứng tổ chức cuộc du hí, một "giấy báo nộp tiền" và đồng thời gửi cho sở kho bạc một "lệnh thu tiền".
Điều 14. Nếu làm trái các điều kể trên hay có hành động gì ám muội mục đích là để ẩn lậu hay sai lạc thuế này, thì người đứng tổ chức du hí phải chịu phạt một số tiền gấp mười lần số tiền thuế ẩn lậu hay sai lạc.
Điều 15. Những người này, nếu vào trường hợp bắt buộc phải giữ sổ sách kế toán mà không chịu giữ hay không chịu xuất trình, thì sẽ bị đánh thuế căn cứ vào số thu nhập cao nhất của một nhà tương tự, và phải phạt thêm 25% ngoài số tiền thuế phải chịu.
Điều 16. Những sự khiếu nại về cách thi hành Nghị định này sẽ xét xử theo nguyên tắc về thuế trực thu.
Điều 17. Các ông Chủ tịch Uỷ ban hành chính Bắc, Trung, Nam bộ và Giám đốc nha Thuế trực thu chiểu nghị thi hành./.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.