Văn bản
Văn bản 151/TTg
Về việc quy định tạm thời về trưng dụng ruộng đất
- Tình trạng
- Còn hiệu lực
- Ngày ban hành
- 14/04/1959
- Ngày có hiệu lực
- 29/04/1959
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bố cục (14 điều)
Điều 1. Để đáp ứng nhu cầu xây dựng của Nhà nước, đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi của người có ruộng đất, nay quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất cần thiết cho việc xây dựng những công trình do Nhà nước quản lý như sau: Chương I — NGUYÊN TẮC CHUNG, QUYỀN HẠN VÀ THỦ TỤC TRƯNG DỤNG RUỘNG ĐẤT Điều 2. Việc trưng dụng ruộng đất của nhân dân dùng vào việc xây dựng những công trình do Nhà nước quản lý phải căn cứ vào những nguyên tắc sau đây: Điều 3. Sau khi bàn bạc với Uỷ ban hành chính, Nông hội địa phương và những người có ruộng đất bị trưng dụng, cơ quan cần lấy ruộng đất để xây dựng làm đề nghị lên cấp có thẩm quyền quyết định trưng dụng. Các cấp có thẩm quyền quyết định trưng dụng ruộng đất để xây dựng là: Điều 4. Những người có ruộng đất bị trưng dụng cần được báo trước một thời gian là hai tháng để kịp di chuyển, trừ trường hợp khẩn cấp, hoặc có nhu cầu cấp thiết xây dựng công trình và được Uỷ ban hành chính tỉnh , thành phố hoặc khu công nhận, thời gian báo trước có thể rút ngắn hơn. Điều 5. Ruộng đất đã trưng dụng thuộc quyền sở hữu của Nhà nước . Chương II — BỒI THƯỜNG CHO NGƯỜI CÓ RUỘNG ĐẤT BỊ TRƯNG DỤNG Điều 6. Uỷ ban hành chính xã cùng với đại diện ban chấp hành nông hội xã, đại diện của cơ quan cần dùng ruộng đất và người có ruộng đất hoặc đại biểu của họ cử ra bàn bạc việc bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng, và đề nghị cách giải quyết theo những nguyên tắc dưới đây; đề nghị đó sẽ báo cáo lên Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố hoặc khu quyết định. Điều 7. Khi cần lấy lại ruộng đất công do nhân dân sử dụng thì cơ quan cần ruộng đất phải báo cho người sử dụng ruộng đất biết trước khi làm thời vụ. Nếu không báo trước được mà phải trưng dụng ngay thì cơ quan cần ruộng đất phải bồi thường tiền giống và công cấy cày trồng trọt cho người bị thiệt hại, trường hợp cần thiết, phải có biện pháp giúp đỡ họ tiếp tục sản xuất và sinh sống. Điều 8. Trường hợp trên ruộng đất dùng vào việc xây dựng có những mồ mả cần dời đi nơi khác, thì cơ quan cần ruộng đất phải thông báo cho những người có mồ mả biết, định thời hạn cho họ dời mồ mả đi chỗ khác, và căn cứ vào tình hình cụ thể, phong tục tập quán của địa phương mà giúp cho họ một số tiền thích đáng làm phí tổn di chuyển. Nếu là mồ mả không có chủ thì cơ quan cần dùng đất phải chịu trách nhiệm dời đi một cách chu đáo. Điều 9. Ngoài số đất dùng để xây dựng, nếu tạm thời cần có đất để xếp vật liệu, làm đường vận chuyển, v.v..thì cơ quan xây dựng phải thương lượng với người có ruộng đất. Điều 10. Những khoản bồi thường về ruộng đất bị trưng dụng do cơ quan cần ruộng đất trả cho người có ruộng đất hoặc người đại diện hay là người thừa kế hợp pháp của họ. Chương III — ĐIỀU KHOẢN CHUNG Điều 11. Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và Bộ Nội vụ quy định những chi tiết để thi hành Nghị định này. Điều 12. Những thể lệ về trưng dụng ruộng đất định trong Nghị định này chỉ thi hành ở vùng đồng bằng và trung du. ở các khu tự trị, việc trưng dụng ruộng đất sẽ do Uỷ ban hành chính khu tự trị căn cứ vào những nguyên tắc chung đề ra trong Nghị định này mà định những thể lệ cho khu tự trị và trình lên Thủ tướng Chính phủ xét duyệt. Điều 13. Những quy định trước đây trái với nghị định này đều bãi bỏ. Điều 14. Các ông chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và Bộ trưởng Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.