Quyết định · UB

Quyết định 1938/1999/QĐ-UB

Ban hành quy định quan hệ phối hợp giữa các cấp, các ngành trong công tác thanh tra, kiểm tra

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
13/08/1999
Ngày có hiệu lực
—
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bố cục (21 điều)

Điều 1. Ban hành kèm theo quyết định này: "Quy định quan hệ phối hợp giữa các cấp, các ngành trong công tác thanh tra, kiểm tra" trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành. Các ông Chánh Văn phòng HĐND và UBND tỉnh, Chủ tịch UBND các cấp, Giám đốc các sở, ban, ngành và đối tượng thanh tra chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.
Điều 1. Thanh tra, kiểm tra là một chức năng thiết yếu của hoạt động quản lý Nhà nước; là phương thức bảo đảm và tăng cường pháp chế, kỷ luật trong quản lý Nhà nước, thực hiện quyền dân chủ XHCN.
Điều 2. UBND tỉnh thống nhất quản lý Nhà nước về công tác thanh tra, kiểm tra trong phạm vi toàn tỉnh.
Điều 3. Mục đích của thanh tra, kiểm tra nhằm giúp cho đối tượng thanh tra hoạt động đúng pháp luật, phát huy các nhân tố tích cực, phòng ngừa vi phạm pháp luật, xử lý vi phạm; góp phần hoàn thiện cơ chế quản lý; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân.
Điều 4. Các cơ quan Nhà nước khi tiến hành thanh tra, kiểm tra phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Điều 5. Khi thanh tra đối tượng thanh tra có quyền:
Điều 6. Các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo về hoạt động thanh tra, kiểm tra theo điều 37 pháp lệnh thanh tra ngày 1/4/1990. Trình tự, thủ tục, thẩm quyền giải quyết theo quy định của luật khiếu nại, tố cáo.
Điều 7. Chánh Thanh tra tỉnh có trách nhiệm giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về công tác thanh tra bao gồm:
Điều 8. Chủ tịch UBND cấp huyện, thị, Thủ trưởng các sở, ban, ngành, căn cứ vào chương trình, kế hoạch thanh tra, kiểm tra của tỉnh và nhiệm vụ, đặc điểm tình hình của ngành, địa phương mình để xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra của ngành và địa phương. Kế hoạch thanh tra, kiểm tra của UBND cấp huyện, sở, ngành gửi về Thanh tra tỉnh để tổng hợp theo dõi chung và thông báo cho các cơ quan hữu quan biết về địa điểm, thời gian, nội dung thanh tra, kiểm tra để tránh chồng chéo.
Điều 9. Trong trường hợp chương trình, kế hoạch thanh tra, kiểm tra có sự chồng chéo về nội dung, thời gian, địa điểm thì Chủ tịch UBND cấp huyện, Thủ trưởng các sở, ngành liên quan chủ động trao đổi để thống nhất giải quyết. Nếu các bên còn ý kiến khác nhau thì thông báo bằng văn bản cho Chánh Thanh tra tỉnh để tổng hợp báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh quyết định.
Điều 10. Trường hợp nhiều cơ quan tiến hành thanh tra cùng nội dung tại một đơn vị thì các cơ quan tiến hành thanh tra trao đổi, thống nhất ra quyết định thành lập Đoàn Thanh tra liên ngành. Cơ quan ra quyết định thành lập Đoàn Thanh tra liên ngành chịu trách nhiệm về kết luận thanh tra.
Điều 11. Đối với những cuộc thanh tra theo nội dung đơn khiếu kiện phức tạp, đông người thì UBND tỉnh, UBND huyện, thị giao cơ quan chức năng thành lập đoàn thanh tra liên ngành để tiến hành thanh tra, kiểm tra.
Điều 12. Khi phát hiện đối tượng thanh tra có vi phạm pháp luật hoặc do yêu cầu quản lý Nhà nước thì UBND tỉnh, Chủ tịch UBND cấp huyện, Thủ trưởng sở, ngành ra quyết định hoặc giao cho tổ chức thanh tra Nhà nước tiến hành thanh tra bất thường.
Điều 13. Quá trình thanh tra kiểm tra nếu phát hiện có dấu hiệu phạm tội thì người ra quyết định thanh tra, kiểm tra phải kịp thời chuyển hồ sơ cho cơ quan điều tra giải quyết theo quy định của pháp luật.
Điều 14. Kết luận thanh tra, kiểm tra có liên quan đến tổ chức Đảng và Đảng viên thì người ra quyết định thanh tra, kiểm tra phải cung cấp kết luận và các tài liệu liên quan cho cấp uỷ và UB kiểm tra của Đảng khi có yêu cầu. Trường hợp phát hiện thấy tổ chức Đảng, Đảng viên có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì báo cáo với cấp uỷ Đảng và Uỷ ban Kiểm tra của Đảng để kịp thời xem xét giải quyết theo quy định của điều lệ Đảng CSVN.
Điều 15. Chủ tịch UBND các cấp, thủ trưởng các sở, ngành có trách nhiệm chi đạo, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các kết luận, quyết định xử lý sau thanh tra, kiểm tra đối với các cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý. Chánh Thanh tra cùng cấp giúp thủ trưởng thực hiện các công việc trên.
Điều 16. Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để các đoàn thanh tra, kiểm tra hoàn thành nhiệm vụ, không được cản trở hoạt động thanh tra, kiểm tra, trì hoãn các yêu cầu về cung cấp tài liệu, chứng cứ có liên quan đến cơ quan Nhà nước đó.
Điều 17. Người nào ra quyết định thanh tra, kiểm tra trái pháp luật, cán bộ lợi dụng, lạm dụng quyền thanh tra, kiểm tra để sách nhiễu, gây khó khăn, phiền hà cho đối tượng tthanh tra, kiểm tra sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 18. Trong quá trình thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra Chủ tịch UBND các cấp, Thủ trưởng các sở, ngành phải thường xuyên chỉ đạo và phối hợp với các cơ quan hữu quan, để thực hiện có chất lượng, hiệu quả kế hoạch công tác thanh tra, kiểm tra ở cấp, ngành mình.
Điều 19. Thanh tra tỉnh có trách nhiệm giúp UBND tỉnh kiểm tra, đôn đốc Chủ tịch UBND cấp huyện, thủ trưởng sở, ngành thực hiện bản quy định này.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.