Văn bản
Văn bản 216-QĐ
Ban hành Quy chế tuyển sinh vào trường phổ thông trung học
- Tình trạng
- Hết hiệu lực toàn bộ
- Ngày ban hành
- 27/02/1986
- Ngày có hiệu lực
- 27/02/1986
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bố cục (57 điều)
Điều 1. Nay ban hành kèm theo Quyết định này bản Quy chế tuyển sinh vào trường phổ thông trung học. Điều 2. Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương, Chánh Văn phòng Bộ Giáo dục, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ trưởng Vụ các trường phổ thông trung học, Giám đốc Sở Giáo dục chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này. Điều 1. Trường phổ thông trung học là loại trường được phát triển theo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước, phù hợp với nhu cầu đào tạo cán bộ và mục tiêu kinh tế - xã hội, quốc phòng của cả nước và địa phương. Việc thu nhận học sinh vào trường phải thông qua các hình thức tuyển chọn. Điều 2. Kỳ thi tuyển sinh vào trường phổ thông trung học hàng năm có mục đích tuyển chọn những học sinh có phẩm chất và năng lực khá, đủ sức tiếp thu các nội dung và chương trình đào tạo của cấp phổ thông trung học. Điều 3. Việc xét tuyển học sinh sẽ căn cứ vào: Điều 4. Việc xét tuyển phải bảo đảm các nguyên tắc cơ bản sau: Điều 5. Việc xét tuyển được thực hiện thông qua hai biện pháp cơ bản là thi tuyển và tuyển thẳng đối với một số học sinh có thành tích xuất sắc trong thời gian học tập ở cấp phổ thông cơ sở, có năng lực đặc biệt đã được đánh giá qua các kỳ thi tuyển học sinh giỏi và học sinh thuộc diện chính sách. Điều 6. Điểm xét tuyển được tính trên cơ sở kết quả thi tuyển và kết quả xếp loại tốt nghiệp phổ thông cơ sở. Xếp loại tốt nghiệp phổ thông cơ sở được quy thành điểm để dễ tính toán như loại giỏi 3 điểm; loại khá 2 điểm; loại trung bình 1 điểm. Điều 8. Sở Giáo dục chịu trách nhiệm trước Bộ Giáo dục và Uỷ ban Nhân dân tỉnh (hoặc thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương) về toàn bộ công tác tuyển sinh vào trường phổ thông trung học. Điều 9. Muốn được dự tuyển, học sinh phải có đủ các điều kiện sau: Điều 10. Nếu học sớm 1 tuổi phải có xếp loại tốt nghiệp phổ thông cơ sở từ khá trở lên mới được dự tuyển. Đối với những trường hợp thiếu trên một tuổi trở lên, Sở Giáo dục phải lập hội đồng kiểm tra, làm tờ trình nói rõ lý do cần thiết và phải được Bộ Giáo dục cho phép mới được dự tuyển. Điều 11. Học sinh gái và học sinh là Việt kiều mới về nước được gia hạn thêm 1 tuổi. Học sinh là người dân tộc ít người, học sinh dự tuyển vào trường phổ thông trung học vừa học vừa làm được gia hạn thêm 2 tuổi. Điều 12. Mỗi trường phổ thông trung học được tuyển sinh theo một địa bàn bao gồm học sinh của một số xã (hoặc đơn vị hành chính tương đương) do Sở Giáo dục và Uỷ ban Nhân dân cấp huyện (hoặc tương đương) quy định. Trường hợp muốn dự tuyển ngoài địa bàn phải được Sở Giáo dục cho phép. Điều 13. Những tỉnh (hoặc thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương) hoặc một số quận, huyện, thị xã thuộc tỉnh (thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương) có số lượng học sinh đăng ký dự tuyển quá nhiều so với chỉ tiêu tuyển sinh, Sở Giáo dục được phép báo cáo Uỷ ban Nhân dân tỉnh (hoặc thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương) để quyết định việc sơ tuyển bằng cách nâng cao điều kiện 3 của điều 9 nhằm giảm bớt số lượng học sinh dự tuyển. Điều 14. Được miễn tham gia sơ tuyển các đối tượng sau: Điều 15. Muốn được dự tuyển, học sinh phải nộp đủ các giấy tờ sau: Điều 16. Học sinh đến dự thi tuyển vào trường phổ thông trung học phải xuất trình với Hội đồng coi thi: Điều 17. Những học sinh đã có đủ điều kiện dự tuyển nói trong điều 9 hoặc điều 13 (nếu có sơ tuyển) mà có thêm một trong các điều kiện dưới đây sẽ được tuyển thẳng vào trường phổ thông trung học không phải qua kỳ thi tuyển: Điều 18. Nếu số lượng học sinh đạt tiêu chuẩn tuyển thẳng thuộc loại 1 nói trong điều 17 của một huyện (hoặc đơn vị hành chính tương đương nào đó) vượt quá 10% số lượng học sinh được phép tuyển, Sở Giáo dục được quyền đề ra các tiêu chuẩn bổ sung để hướng dẫn địa phương đó chọn lựa những học sinh thật sự tiêu biểu cho loại này với số lượng không quá 10% chỉ tiêu tuyển sinh đã quy định. Điều 19. Hồ sơ và danh sách học sinh được tuyển thẳng vào trường phổ thông trung học do phòng giáo dục huyện (hoặc cấp tương đương) chịu trách nhiệm lập để trình Sở Giáo dục duyệt và phải bảo đảm sự chính xác của danh sách này trước cha mẹ học sinh và trước cấp trên. Điều 20. Phòng Giáo dục và các trường phổ thông cơ sở phải giao đủ các hồ sơ cần thiết cho trường phổ thông trung học để nhà trường quản lý và kiểm tra hồ sơ lưu giữ. Điều 21. Những học sinh đủ điều kiện dự tuyển nêu tại điều 9 hoặc điều 13 (nêu có sơ tuyển) mà không thuộc diện được tuyển thẳng sẽ được dự một kỳ thi tuyển vào trường phổ thông trung học. Điều 22. Nếu trong thời gian thi tuyển, học sinh trong diện thi tuyển được một cơ quan cấp Bộ hoặc tương đương điều động đi làm một việc khác phục vụ lợi ích chung của đất nước (như đi dự các hội nghị quốc tế, trại hè quốc tế, biểu diễn nghệ thuật ở nước ngoài...) thì khi trở về sẽ được kiểm tra văn hoá, có đủ trình độ sẽ được tuyển vào học. Ngoài những hồ sơ đã quy định trong điều 15, các trường hợp này đều phải có công văn đề nghị của cơ quan điều động và phải được Sở Giáo dục đồng ý. Trường phổ thông trung học nơi học sinh xin vào học chịu trách nhiệm kiểm tra văn hoá theo sự hướng dẫn của Sở Giáo dục. Điều 23. Trong kỳ thi tuyển vào trường phổ thông trung học, học sinh sẽ thi viết hai môn: Điều 24. Đề thi do Sở Giáo dục ra thống nhất cho các hội đồng thi tuyển của địa phương. Nếu phải thi trong nhiều ngày thì các đề thi phải có trình độ tương đương. Đề thi phải tuân theo những yêu cầu và hướng dẫn của Bộ Giáo dục, phải bảo đảm bí mật tuyệt đối từ khi chuẩn bị ra đề đến khi hoàn thành khâu coi thi. Biểu điểm và hướng dẫn chấm cũng phải bảo đảm hoàn toàn bí mật như đề thi. Điều 25. Kỳ thi tuyển học sinh vào trường phổ thông trung học được tổ chức vào thời gian do Bộ quy định trong biên chế năm học của từng năm. Điều 26. Phòng Giáo dục huyện (hoặc cấp tương đương) chịu trách nhiệm đôn đốc các trường phổ thông cơ sở chuyển giao đầy đủ, đúng hạn các hồ sơ cần thiết để trường phổ thông trung học lập bảng ghi tên ghi điểm (ba bản) và lập danh sách học sinh dự thi tuyển theo sự hướng dẫn của Sở Giáo dục 5 ngày trước khi thi, trường phổ thông trung học phải công bố danh sách đó tại trường để học sinh biết và khiếu nại nếu thấy cần thiết. Điều 27. ở mỗi trường phổ thông trung học đã được Bộ Giáo dục công nhận được thành lập một hội đồng tuyển sinh phổ thông trung học. Việc coi thi do hội đồng này đảm nhiệm và phải được tiến hành nghiêm túc, an toàn, đúng Quy chế, theo các quy định về coi thi như thi tốt nghiệp phổ thông. Điều 28. Tại mỗi huyện (hoặc đơn vị hành chính tương đương) lập một hội đồng chấm thi cho tất cả học sinh dự thi vào các trường phổ thông trung học trong huyện. Bài thi được rọc phách trước khi giao cho giám khảo chấm. Mỗi bài được hai người chấm. Việc chấm thi phải tuân theo các quy định về nghiệp vụ chấm thi như thi tốt nghiệp phổ thông trung học. Điều 29. Sau khi hội đồng chấm thi đã làm xong nhiệm vụ, điểm bài thi được công bố công khai cho thí sinh biết tại các trường phổ thông trung học đồng thời trường phổ thông trung học tổ chức tiếp nhận đơn khiếu nại bài thi của học sinh. Toàn bộ bài thi và phách kèm theo được niêm phong gửi về Sở Giáo dục bảo quản trong 1 năm. Biên bản hội đồng chấm và biên bản các tổ chấm gửi về ban tuyển sinh phổ thông trung học tỉnh (hoặc thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương) bảo quản cùng với bài thi. Điều 30. Việc giải quyết đơn khiếu nại về bài thi của học sinh được quy định như sau: Điều 31. Cách giải quyết điểm bài thi được chấm lại quy định như sau: Điều 32. Hội đồng tuyển sinh trường phổ thông trung học xét trúng tuyển học sinh vào trường mình. Hội đồng xét một lần toàn bộ số lượng được tuyển qua thi tuyển trình Hội đồng tuyển sinh huyện (hoặc cấp tương đương) cho ý kiến để Sở Giáo dục xét duyệt. Sau khi được Sở duyệt mới được phép gọi học sinh vào trường. Hội đồng phải làm việc với tinh thần công bằng dân chủ và đúng Quy chế khi xét tuyển từng trường hợp cụ thể. Điều 33. Học sinh được hưởng chính sách ưu tiên, khuyến khích bao gồm: Điều 34. Những học sinh đã dự thi tuyển có đủ các điều kiện sau đây sẽ được trúng tuyển: Điều 35. Việc định điểm chuẩn trúng tuyển do Hội đồng tuyển sinh trường phổ thông trung học đề nghị tham khảo ý kiến hội đồng tuyển sinh huyện (hoặc cấp tương đương) và do Sở Giáo dục quyết định. Điều 36. Đối với những trường phổ thông trung học tuyển sinh trong địa bàn nhiều xã, trong đó có xã do điều kiện kinh tế - xã hội ít phát triển, trong nhiều năm số lượng học sinh đã đạt điểm chuẩn chung thấp, có quá ít học sinh được học phổ thông trung học, ảnh hưởng đến công tác đào tạo cán bộ có trình độ phổ thông trung học của xã, Sở Giáo dục sẽ tham khảo ý kiến Uỷ ban Nhân dân huyện và quyết định dành từ 2% đến 5% chỉ tiêu tuyển sinh để xét tuyển thêm cho học sinh những xã này với điểm chuẩn thấp hơn mức chung một ít. Số học sinh xét lấy thêm này phải tuân theo nguyên tắc học sinh nào có điểm xét tuyển cao sẽ được chọn trước. Điều 37. Trong một số ít trường hợp ở miền núi hoặc vùng sâu, xa xôi, hải đảo... nếu trường phổ thông trung học có số lượng dự tuyển ít hơn chỉ tiêu tuyển sinh, Sở Giáo dục được phép xem xét và quyết định việc có cần thiết phải tổ chức thi tuyển hay không hoặc uỷ nhiệm cho trường chỉ tổ chức kiểm tra văn hoá để nắm vững trình độ học sinh trước khi tuyển vào. Điều 38. Khi xét tuyển phải bảo đảm nguyên tắc đã nêu trong điều 2, không lệ thuộc hoàn toàn vào chỉ tiêu dự kiến nếu thực chất học sinh quá yếu không đủ năng lực học cấp phổ thông trung học, Sở Giáo dục trình Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố giảm bớt số chỉ tiêu tuyển sinh đối với số nơi đặc biệt này. Điều 39. Danh sách học sinh được tuyển thẳng phải do phòng giáo dục lập, danh sách học sinh trúng tuyển vào trường phổ thông trung học qua thi tuyển phải do hội đồng tuyển sinh trường phổ thông trung học lập, có đầy đủ chữ ký của chủ tịch hội đồng, và xét duyệt của Sở Giáo dục mới hợp lệ. Các loại danh sách này đều phải được lập thành ba bản lưu giữ ở Sở Giáo dục, phòng giáo dục và trường phổ thông trung học. Các loại danh sách này phải được bảo quản nhiều năm và có thể kiểm tra xem xét bất kỳ lúc nào. Điều 40. Chậm nhất là ngày 30 tháng 7 hàng năm mọi công việc về thi tuyển vào trường phổ thông trung học (trừ thủ tục chứng nhận) phải hoàn thành để các trường kịp chuẩn bị khai giảng năm học mới. Điều 41. Chậm nhất là ngày 31 tháng 10 hàng năm, Sở Giáo dục phải hoàn thành chứng nhận được vào học phổ thông trung học cho những học sinh được tuyển thẳng (ghi rõ tuyển thẳng) và học sinh trúng tuyển (ghi rõ trúng tuyển) trên giấy chứng nhận được vào học phổ thông trung học. Điều 42. Bộ Giáo dục chịu trách nhiệm: Điều 43. Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm: Điều 44. Sở Giáo dục chịu trách nhiệm trước Bộ Giáo dục và Uỷ ban Nhân dân tỉnh (hoặc thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương) về toàn bộ công tác tuyển sinh vào trường phổ thông trung học ở địa phương mình theo đúng Quy chế đã ban hành. Đối với một số khâu công việc quan trọng, phức tạp, Sở Giáo dục trình Uỷ ban Nhân dân tỉnh (hoặc thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương) để lập các ban hoặc hội đồng chuyên trách giúp Sở Giáo dục hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện. Sở Giáo dục đề nghị Uỷ ban Nhân dân tỉnh (hoặc thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương) phân cấp cho Uỷ ban Nhân dân huyện (hoặc cấp tương đương) tham gia chỉ đạo công tác tuyển sinh phổ thông trung học trong phạm vi địa phương mình. Điều 45. Sở Giáo dục trình Uỷ ban Nhân dân tỉnh (hoặc thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương) ra quyết định thành lập các tổ chức sau đây để giúp Sở Giáo dục làm công tác tuyển sinh: Điều 46. Trong thời gian tổ chức coi thi, chấm thi, xét trúng tuyển phổ thông trung học, Sở Giáo dục ra quyết định thành lập và cử đến mỗi Hội đồng coi thi, chấm thi một tổ kiểm tra giám sát đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Ban tuyển sinh tỉnh. Tổ này gồm 3 người do một Hiệu phó phổ thông trung học làm tổ trưởng và 2 giáo viên (1 văn, 1 toán) làm tổ viên để kiểm tra giám sát tại chỗ việc coi thi, chấm thi, xét duyệt danh sách học sinh trúng tuyển. Điều 47. Uỷ ban Nhân dân tỉnh (hoặc thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương) theo đề nghị của Sở Giáo dục, uỷ nhiệm cho Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân huyện (hoặc cấp tương đương) ra quyết định thành lập hội đồng tuyển sinh phổ thông trung học huyện (hoặc cấp tương đương) và các hội đồng tuyển sinh trường phổ thông trung học và Hội đồng chấm thi trong phạm vi huyện (hoặc đơn vị tương đương). Điều 48. Mỗi trường phổ thông trung học lập một hội đồng tuyển sinh làm nhiệm vụ tổ chức coi thi và xét trúng tuyển, Hiệu trưởng trường phổ thông trung học làm chủ tịch hội đồng, phó hiệu trưởng làm phó chủ tịch, thư ký và uỷ viên là giáo viên trong trường. Điều 49. Mỗi huyện (hoặc cấp tương đương) thành lập một hội đồng chấm thi chung cho các trường phổ thông trung học trong địa phương. Chủ tịch là hiệu trưởng trường phổ thông trung học, phó chủ tịch và thư ký là hiệu trưởng, phó hiệu trưởng hoặc tổ trưởng bộ môn các trường phổ thông trung học. Giám khảo chọn trong các giáo viên bộ môn văn - toán lâu năm của các trường phổ thông trung học của địa phương. Số lượng giám khảo từng hội đồng chấm thi do Sở Giáo dục quy định tuỳ theo số lượng học sinh dự thi. Điều 50. Đối với những huyện chỉ có 1 trường phổ thông trung học, không phải lập Hội đồng tuyển sinh phổ thông trung học huyện. Hội đồng tuyển sinh trường phổ thông trung học làm cả nhiệm vụ coi thi, chấm thi và xét trúng tuyển học sinh vào học trường mình dưới sự lãnh đạo của Ban tuyển sinh tỉnh và Uỷ ban Nhân dân huyện. Quan hệ giữa trường phổ thông trung học và phòng giáo dục trong công tác tuyển sinh phổ thông trung học do Sở Giáo dục quy định. Điều 51. Để bảo đảm việc coi thi, chấm thi nghiêm túc, công bằng khách quan, đúng Quy chế tuyển sinh phổ thông trung học, khi cần thiết Sở Giáo dục được phép báo cáo Uỷ ban Nhân dân tỉnh (hoặc thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương) thực hiện việc chuyển đổi chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng coi thi, chấm thi của một hoặc một số trường phổ thông trung học của các quận hoặc huyện, thị xã trong địa phương mình (sẽ có hướng dẫn chi tiết sau). Điều 52. Các quy định cụ thể về nhiệm vụ của chủ tịch, phó chủ tịch, thư ký, giáo viên coi thi, chấm thi, và bảo vệ bí mật đề thi, bảo vệ bài thi, an toàn nơi thi... của kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học được phép áp dụng trong kỳ thi tuyển vào trường phổ thông trung học. Điều 53. Về khen thưởng và kỷ luật: Điều 54. Chậm nhất là 30 tháng 8 hàng năm, các Sở Giáo dục phải báo cáo về Bộ Giáo dục. Điều 55. Quy chế này áp dụng vào việc tuyển sinh vào trường phổ thông trung học và trường phổ thông trung học vừa học vừa làm. Quy chế có hiệu lực kể từ ngày ký quyết định ban hành. Bộ Giáo dục sẽ ban hành Thông tư hướng dẫn chi tiết việc thực hiện bản Quy chế này. Điều 56. Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương, Chánh Văn phòng Bộ Giáo dục, Vụ trưởng Vụ các trường phổ thông trung học, Vụ trưởng Vụ các trường phổ thông cơ sở, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài vụ của Bộ Giáo dục và Giám đốc Sở Giáo dục chịu trách nhiệm thi hành bản Quy chế này.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.