Văn bản · Hội đồng Bộ trưởng

Văn bản 23-HĐBT/0d08b84c

Tình trạng
Không rõ
Ngày ban hành
—
Ngày có hiệu lực
24/01/1991
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Được hướng dẫn bởi (3)

Hướng dẫn thi hành (4)

Bố cục (156 điều)

Điều 1. - Nay ban hành kèm theo Nghị định này các Điều lệ về:
Điều 2. - Nghị định này có hiệu lực từ ngày ký. Các quy định trước đây trái với nội dung Nghị định này đều bãi bỏ.
Điều 3. - Bộ trưởng Bộ Y tế, các Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
Chương I — :
  Điều 1. - Y học, dược học cổ truyền dân tộc Việt nam với những kinh nghiệm và phương pháp phòng bệnh, chữa bệnh phong phú, hiệu quả là vốn quý của nhân dân cần phải được kế thừa và phát triển để phục vụ nhiệm vụ bảo vệ sức khoẻ của nhân dân.
  Điều 2. - Các chức danh dùng trong Điều lệ này được hiểu như sau:
  Điều 3. - Bộ Y tế thực hiện chức năng quản lý Nhà nước đối với mọi hoạt động y học, dược học cổ truyền dân tộc; kế thừa và phát triển y học, dược học cổ truyền dân tộc, kết hợp y học, dược học cổ truyền dân tộc với y học, dược học hiện đại.
  Điều 4. - Ngành y tế, Uỷ ban Nhân dân các cấp phải bảo đảm các cơ sở và điều kiện vật chất cần thiết để củng cố, mở rộng và hoàn thiện mạng lưới phục vụ y tế bằng y học, dược học cổ truyền dân tộc và phát triển nuôi trồng dược liệu trong địa phương mình.
  Điều 5. - Hội y học cổ truyền dân tộc Việt nam có trách nhiệm động viên, giới thiệu lương y tham gia nghiên cứu và truyền thụ những kinh nghiệm khám bệnh, chữa bệnh, nuôi trồng dược liệu và sản xuất thuốc học dân tộc giỏi.
Chương II — :
  Điều 6. - Đối tượng được hành nghề y, dược học cổ truyền dân tộc gồm:
  Điều 7. - Lương y khám bệnh kê đơn, lương y gia truyền và bác sỹ, y sỹ, y học dân tộc muốn đăng ký hành nghề khám bệnh, chữa bệnh phải có các điều kiện sau:
Chương III — :
  Điều 8. - Người được phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền dân tộc chỉ được:
  Điều 9. - Người được phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền dân tộc trừ những người ghi ở điểm 6, điều 6 của Điều lệ này không được:
Chương IV — :
  Điều 10. - Người được phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền dân tộc có trách nhiệm:
  Điều 11. - Người được phép hành nghề khám bệnh, chữa bệnh bằng y học cổ truyền dân tộc được hưởng quyền lợi:
  Điều 12. - Nghiêm cấm mọi hành vi lợi dụng y học cổ truyền dân tộc để hoạt động bất hợp pháp như tuyên truyền, quảng cáo lừa bịp về phương pháp chữa bệnh, về thuốc hoặc chữa bệnh bằng các hình thức mê tín.
Chương V — :
  Điều 13. - Các tổ chức Nhà nước, tập thể và tư nhân hành nghề y học, dược học cổ truyền dân tộc đều phải tuân theo những quy định của điều lệ này và chịu sự kiểm tra, thanh tra của các cơ quan y tế có thẩm quyền.
  Điều 14. - Người nào vi phạm những quy định của Điều lệ này tuỳ theo mức độ mà bị xứ lý kỷ luật, xử lý hành chính từ cảnh cáo, phạt tiền, đến thu hồi giấy phép hành nghề hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, bồi thường thiệt hại theo quy định của Pháp luật.
  Điều 15. - Các quy định trước đây trái với Điều lệ này đều bãi bỏ.
  Điều 16. - Bộ Y tế có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra đôn đốc việc thực hiện Điều lệ này.
Chương I — :
  Điều 2.
  Điều 3.
Chương II — :
  Điều 4.
  Điều 5.
Chương III — :
  Điều 6.
Chương IV — :
  Điều 7.
  Điều 8. Việc thử thuốc trên người phải theo đúng quy định của Bộ Y tế, được một số cơ sở chữa bệnh ở Trung ương hoặc thành, tỉnh có đủ điều kiện về trình độ chuyên môn và trang thiết bị nhận hợp đồng thử nghiệm.
  Điều 9.
Chương V — :
  Điều 10. Tất cả các loại thuốc và nguyên liệu làm thuốc sản xuất trong nước hay nhập khẩu đều phải đăng ký và được Bộ Y tế cấp sổ đăng ký.
  Điều 11.
  Điều 12.
Chương IV — :
  Điều 13. Tổ chức và cá nhân muốn mở cơ sở sản xuất thuốc phải theo đúng những quy định tại Chương II của Điều lệ này và chỉ được sản xuất các thuốc đã được Bộ Y tế cấp giấy phép.
  Điều 14. Thuốc sản xuất trong các cơ sở điều trị, điều dưỡng và hiệu thuốc pha theo đơn không lưu hành ở thị trường phải theo đúng công thức, tiêu chuẩn của dược điển Việt Nam hoặc của Hội đồng khoa học kỹ thuật cơ sở duyệt hoặc theo đơn của thầy thuốc.
  Điều 15. Chỉ có các tổ chức có chức năng sản xuất, kinh doanh thuốc và được Bộ Y tế hoặc Sở Y tế cấp giấy phép mới được gia công hoặc nhận gia công thuốc.
  Điều 16.
Chương VII — :
  Điều 17. Tổ chức và các nhân muốn mở cơ sở kinh doanh phân phối thuốc phải theo đúng những quy định tại chương II Điều lệ này.
  Điều 18. Bộ Y tế quy định danh mục thuốc cho các tuyến, các cơ sở kinh doanh phân phối, thuốc bán theo đơn và thuốc bán không cần có đơn.
  Điều 19.
  Điều 20. Nghiêm cấm việc phân phối thuốc chưa có số đăng ký, thuốc nghi ngờ chất lượng, thuốc giả mạo, thuốc quá hạn dùng.
Chương VIII — :
  Điều 21. Các tổ chức và các nhân muốn mở cơ sở xuất khẩu, nhập khẩu thuốc và nguyên liệu làm thuốc phải theo đúng những quy định tại Chương II của Điều lệ này và các quy chế về xuất nhập khẩu thuốc của Bộ Y tế và Bộ Thương nghiệp. Các loại thuốc nhập khẩu phải theo đúng quy định tại chương V của Điều lệ này, thuốc xuất khẩu phải được Bộ Y tế cấp giấy phép.
  Điều 22.
  Điều 23. ổ chức hải quan có trách nhiệm kiểm tra, ngăn chặn, niêm phong các thuốc đã quy định tại Điều 22 của Điều lệ này và thuốc chưa được Bộ Y tế cho phép xuất khẩu, nhập khẩu.
  Điều 24. Thuốc nhập khẩu theo đường phi mậu dịch, thuốc mang theo người để dùng, phải thực hiện theo quy định của Bộ Y tế và Tổng cục hải quan.
Chương IX — :
  Điều 25.
  Điều 26. Bộ Y tế, Bộ Thương nghiệp, Bộ Nội vụ, Tổng cục Hải quan có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện các quy định về quản lý các loại thuốc đã ghi tại điều 25 của Điều lệ này trong tất cả lĩnh vực xuất khẩu, nhập khẩu, sản xuất lưu thông phân phối, sử dụng, tồn trữ và vận chuyển các loại thuốc đó.
Chương X — :
  Điều 27. Tổ chức và các nhân tồn trữ thuốc và nguyên liệu làm thuốc phải đáp ứng các điều kiện sau:
  Điều 28. Việc vận chuyển thuốc phải có giấy phép vận chuyển hợp pháp và điều kiện bảo đảm các yêu cầu bảo quản đặc biệt đối với từng loại thuốc.
  Điều 29. Ngành giao thông vận tải và bưu điện, ngành Nội vụ, và Uỷ ban Nhân dân các cấp có trách nhiệm vận chuyển kịp thời thuốc trong các trường hợp thiên tai, địch hoạ, chống dịch, tai nạn lớn theo yêu cầu của ngành y tế.
Chương XI — :
  Điều 30. Người kê đơn thuốc phải theo đúng quy chế của Bộ Y tế và phải chịu trách nhiệm về những chỉ định của mình.
  Điều 31.
Chương XII — :
  Điều 32.
  Điều 33.
  Điều 34.
Chương XIII — :
  Điều 35.
  Điều 36.
  Điều 37.
Chương XIV — :
  Điều 38.
  Điều 39.
  Điều 40.
Chương XV — :
  Điều 41. Người nào vi phạm các quy định của Điều lệ này tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị xử lý kỷ luật, xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
  Điều 42. Hội đồng Bộ trưởng giao cho Bộ Y tế ban hành các quy chế hoạt động của hành nghề dược
  Điều 43. Bộ Y tế và các Bộ liên quan có trách nhiệm quy định chi tiết thi hành điều lệ này.
  Điều 44. Các quy định trước đây trái với điều lệ này đều bãi bỏ.
Chương I — :
  Điều 1.
  Điều 2.
  Điều 3.
  Điều 4.
  Điều 5.
  Điều 6.
  Điều 7.
  Điều 8.
  Điều 9.
Chương II — :
  Điều 10.
  Điều 11.
  Điều 12.
Chương II — :
  Điều 13.
  Điều 14.
Chương IV — :
  Điều 15.
  Điều 16.
Chương V — :
  Điều 17.
  Điều 18.
Chương VI — :
  Điều 19.
  Điều 20.
  Điều 21.
Chương VII — :
  Điều 22.
  Điều 23.
  Điều 24.
  Điều 25.
  Điều 26.
Chương VIII — :
  Điều 27.
  Điều 28.
  Điều 29.
Chương IX — :
  Điều 30.
  Điều 31.
  Điều 32.
  Điều 33.
Chương X — :
  Điều 34.
  Điều 35.
  Điều 36.
  Điều 37.
Chương XI — :
  Điều 38.
  Điều 39.
  Điều 40.
  Điều 41.
Chương I — :
  Điều 1.
  Điều 2.
  Điều 4.
Chương II — :
  Điều 5.
  Điều 6.
  Điều 7.
Chương III — :
  Điều 8.
  Điều 9.
  Điều 10.
Chương IV — :
  Điều 12. Người nước ngoài đang ở Việt Nam được khám bệnh, chữa bệnh khi họ có nhu cầu hoặc phía Việt Nam xét thấy cần phải bảo vệ sức khoẻ cho họ và người xung quanh.
  Điều 13. Người nước ngoài muốn vào chưa bệnh tại Việt Nam đều phải gửi trước cho Bộ Y tế Việt Nam hồ sơ bệnh án để xem xét và tiếp nhận.
  Điều 14. Người nước ngoài khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam phải tuân thủ các quy định pháp luật về bảo vệ sức khoẻ nhân dân và chấp hành nội quy bệnh viện.
  Điều 15. Việc thanh toán viện phí đối với người nước ngoài khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam sẽ căn cứ vào các điều khoản trong các Hiệp định đã ký kết hoặc sự thoả thuận khác giữa Việt Nam với các nước mà họ mang quốc tịch.
  Điều 16. Thầy thuốc không mang quốc tịch Việt Nam muốn hành nghề y tế tại Việt Nam phải đựoc Bộ Y tế nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cấp giấy phép và phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước Việt Nam theo quy định.
Chương V — :
  Điều 17.
  Điều 18.
  Điều 19. Các tổ chức sử dụng lao động, các cơ quan bảo hiểm xã hội và người lao động nếu không đồng ý với kết luận của Hội đồng giám định y khoa có quyền đề nghị lên Hội đồng giám định y khoa trên một cấp giám định lại.
  Điều 20.
Chương VI — :
  Điều 21.
  Điều 22. Bộ Y tế phải đưa chương trình giáo dục về phục hồi chức năng vào giảng dạy trong các trường Đại học Y, Trung học Y và các trường đào tạo cán bộ y tế khác.
  Điều 23.
  Điều 24. Bộ Y tế, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội có trách nhiệm xây dựng các trung tâm phục hồi chức năng, các xưởng sản xuất dụng cụ phục hồi chức năng theo từng khu vực.
Chương VII — :
  Điều 25. Các yếu tố thiên nhiên là những nguồn gốc nước khoáng, mỏ bùn thuốc, khu vực bãi biển, vùng khí hậu và các yếu tố thiên nhiên có tác dụng dược lý đặc biệt trong phòng bệnh, chữa bệnh, điều dưỡng và phục hồi chức năng.
  Điều 26.
  Điều 27.
  Điều 28.
Chương VIII — :
  Điều 29.
  Điều 30.
Chương IX — :
  Điều 31. Phụ nữ có quyền được các cơ sở y tế quản lý và theo dõi sức khoẻ trong thời kỳ thai nghén, được chăm sóc sức khoẻ khi sinh con, được lựa chọn các biện pháp sinh đẻ có kế hoạch, được đến các cơ sở y tế để chữa vô sinh theo yêu cầu của mình.
  Điều 32.
  Điều 33. Bộ Y tế có trách nhiệm củng cố, phát triển màng lưới chuyên khoa phụ sản, sơ sinh và sinh đẻ kế hoạch đến tận cơ sở đào tạo, bổ túc cán bộ để nâng cao trình độ chuyên môn, bảo đảm các cơ sở vật chất như phòng đẻ, phòng khám phụ khoa, phòng làm thủ thuật điều trị và các nhu cầu cần thiết khác.
  Điều 34.
  Điều 35. Nghiêm cấm các hành vi đánh đập, hành hại, bóc lột sức lao động để ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ em.
  Điều 36.
Chương X — :
  Điều 37.
  Điều 38. Những quy định trước đây trái với Điều lệ này đều bãi bỏ.
  Điều 39. Bộ Y tế và các Bộ liên quan có trách nhiệm quy định chi tiết hướng dẫn và kiểm tra việc thi hành Điều lệ này.
Chương I — :
  Điều 1. Thanh tra Nhà nước về y tế có chức năng thực hiện quyền thanh tra Nhà nước về y tế trên phạm vi cả nước, thanh tra việc chấp hành các quy định của pháp luật về vệ sinh, khám bệnh, chữa bệnh và dược của các tổ chức Nhà nước, tập thể và tư nhân, các tổ chức xã hội và công dân; thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ được giao của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của Bộ Y tế; xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền.
  Điều 2. Thanh tra Nhà nước về y tế chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Y tế và chịu sự chỉ đạo về tổ chức, công tác và nghiệp vụ thanh tra của thanh tra Nhà nước.
  Điều 3. Hoạt động thanh tra Nhà nước về y tế phải tuân theo pháp luật, bảo đảm chính xác, khách quan, công khai, dân chủ, kịp thời; thanh tra viên y tế được sử dụng các quyền của thanh tra viên quy định tại pháp lệnh thanh tra; được quyết định hình thức xử phạt hành chính khi tiến hành thanh tra vệ sinh, thanh tra khám bệnh, chữa bệnh, thanh tra dược và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.
  Điều 4. Các tổ chức Nhà nước, tập thể và tư nhân, các tổ chức xã hội và công dân nơi tiến hành thanh tra phải cung cấp tài liệu, báo cáo bằng văn bản những sự việc có liên quan đến nội dung thanh tra; phải chấp hành yêu cầu, quyết định của đoàn thanh tra hoặc thanh tra viên y tế.
  Điều 5. Thanh tra viên y tế khi làm nhiệm vụ phải mang theo thẻ thanh tra, có sắc phục riêng.
Chương II — :
  Điều 6. Thanh tra Nhà nước về y tế được tổ chức từ trung ương đến địa phương bao gồm: thanh tra vệ sinh, thanh tra khám bệnh, chữa bệnh, thanh tra dược, thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ được giao và xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo.
  Điều 7. Tổ chức thanh tra Nhà nước về y tế ở trung ương được tổ chức theo pháp lệnh thanh tra:
  Điều 8.
Chương III — :
  Điều 9.
  Điều 10.
  Điều 11.
Chương IV — :
  Điều 12.
  Điều 13.
  Điều 14.
Chương V — :
  Điều 15.
  Điều 16. Bộ trưởng Bộ Y tế chịu trách nhiệm hướng dẫn việc thi hành Điều lệ này.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.