Luật · Quốc hội

Luật 26/2004/QH11

Về việc ban hành Quy chế hoạt động của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội

Tình trạng
Còn hiệu lực
Ngày ban hành
15/06/2004
Ngày có hiệu lực
25/06/2004
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Được hướng dẫn bởi (1)

Hướng dẫn thi hành (2)

Bố cục (61 điều)

Chương I — NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
  Điều 1. Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội, do Quốc hội bầu ra tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Quốc hội. Uỷ ban thường vụ Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.
  Điều 2. Uỷ ban thường vụ Quốc hội gồm có Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các uỷ viên do Chủ tịch Quốc hội làm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Quốc hội làm các Phó Chủ tịch.
  Điều 3. Uỷ ban thường vụ Quốc hội tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số.
  Điều 4.
  Điều 5. Uỷ ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh và nghị quyết để thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình.
  Điều 6. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Uỷ ban thường vụ Quốc hội phối hợp công tác với Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Đoàn Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; yêu cầu đại diện các cơ quan, tổ chức khác và công dân tham gia khi cần thiết.
Chương II — NỘI DUNG HOẠT ĐỘNG CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
  Điều 7. Trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
  Điều 8. Tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá trước trình Quốc hội quyết định số Phó Chủ tịch Quốc hội và số Uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội; giới thiệu danh sách để Quốc hội bầu Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội, các Uỷ viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá mới.
  Điều 9. Trong việc chỉ đạo, tổ chức chuẩn bị và triệu tập kỳ họp Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
  Điều 10.
  Điều 11. Trong việc chuẩn bị dự án chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hàng năm và cả nhiệm kỳ Quốc hội trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
  Điều 12. Trong việc chỉ đạo, triển khai thực hiện chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đã được Quốc hội thông qua, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
  Điều 13. Trong việc trình Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
  Điều 14. Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra pháp lệnh căn cứ vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đã được Quốc hội thông qua.
  Điều 15.
  Điều 16. Trong việc chuẩn bị dự kiến chương trình giám sát của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
  Điều 17. Trong việc chỉ đạo triển khai thực hiện chương trình giám sát của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
  Điều 18. Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định chương trình giám sát hàng quý, hàng năm của mình căn cứ vào chương trình giám sát của Quốc hội, đề nghị của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban công tác đại biểu, Ban dân nguyện và ý kiến, kiến nghị của cử tri cả nước.
  Điều 19. Căn cứ vào chương trình giám sát đã được thông qua, Uỷ ban thường vụ Quốc hội phân công thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội thực hiện các nội dung trong chương trình; tổ chức Đoàn giám sát hoặc có thể giao Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội thực hiện một số nội dung thuộc chương trình và báo cáo kết quả với Uỷ ban thường vụ Quốc hội; quyết định tiến độ thực hiện và các biện pháp bảo đảm thực hiện chương trình.
  Điều 20. Căn cứ vào chương trình giám sát của mình hoặc theo yêu cầu của Quốc hội, đề nghị của Hội đồng dân tộc, Uỷ ban của Quốc hội, Ban công tác đại biểu, Ban dân nguyện, Đoàn đại biểu Quốc hội hoặc của đại biểu Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập Đoàn giám sát của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
  Điều 21. Đối với hoạt động của Chính phủ, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
  Điều 22. Đối với tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
  Điều 23. Đối với tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
  Điều 24. Trong việc xem xét kiến nghị của cử tri cả nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
  Điều 25. Trong việc tổ chức thực hiện quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
  Điều 26.
  Điều 27. Trong việc chuẩn bị trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
  Điều 28. Uỷ ban thường vụ Quốc hội giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
  Điều 29. Trong việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
  Điều 30. Đối với hoạt động của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
  Điều 31. Trong việc chỉ đạo, điều hoà, phối hợp hoạt động của Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
  Điều 32. Đối với đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
  Điều 33.
  Điều 34. Trong hoạt động đối ngoại, Uỷ ban thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
  Điều 35. Trong trường hợp Quốc hội không thể họp được, theo đề nghị của Hội đồng quốc phòng và an ninh, Uỷ ban thường vụ Quốc hội ra nghị quyết tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược và báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp gần nhất. Nghị quyết này phải được gửi ngay đến Chủ tịch nước để công bố.
  Điều 36.
  Điều 37. Uỷ ban thường vụ Quốc hội tổ chức trưng cầu dân ý theo quyết định của Quốc hội; quy định việc phát hành phiếu trưng cầu, thể thức bỏ phiếu và kiểm phiếu; tổ chức việc bỏ phiếu, tổng hợp, công bố kết quả trưng cầu và báo cáo với Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Chương III — TỔ CHỨC VÀ TIẾN HÀNH PHIÊN HỌP
  Điều 38. Phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội là hình thức hoạt động chủ yếu của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Tại phiên họp, Uỷ ban thường vụ Quốc hội thảo luận và quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật.
  Điều 39. Uỷ ban thường vụ Quốc hội họp thường kỳ mỗi tháng một phiên.
  Điều 40.
  Điều 41. Phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội được tiến hành khi có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội tham dự.
  Điều 42. Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ xem xét những vấn đề được ghi trong chương trình phiên họp khi có đầy đủ các văn bản cần thiết.
  Điều 43.
  Điều 44.
  Điều 45.
  Điều 46. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự thảo nghị quyết giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh, điều ước quốc tế theo trình tự sau đây:
  Điều 47. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét báo cáo, dự án khác của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, đại biểu Quốc hội và các cơ quan, tổ chức hữu quan theo trình tự sau đây:
  Điều 48. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội theo trình tự sau đây:
  Điều 49. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội theo trình tự sau đây:
  Điều 50. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét pháp lệnh, nghị quyết của mình đã được thông qua do đại biểu Quốc hội đề nghị khi phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội theo trình tự sau đây:
  Điều 51. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét việc trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội theo trình tự sau đây:
  Điều 52. Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét việc trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn theo trình tự sau đây:
  Điều 53.
  Điều 54.
  Điều 55. Phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội được ghi thành biên bản. Biên bản phiên họp phải ghi đầy đủ quá trình diễn biến của phiên họp, ý kiến phát biểu, kết luận và kết quả biểu quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Biên bản phiên họp phải được chủ toạ phiên họp ký chứng thực.
Chương IV — QUAN HỆ CÔNG TÁC CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
  Điều 56. Chủ tịch nước có quyền tham dự phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội và phát biểu ý kiến về các vấn đề thuộc chương trình làm việc của phiên họp.
  Điều 57. Thủ tướng Chính phủ được mời tham dự phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội và phát biểu về các vấn đề thuộc chương trình phiên họp. Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ được mời tham dự phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội và phát biểu ý kiến về các vấn đề liên quan đến lĩnh vực được phân công phụ trách.
  Điều 58. Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được mời tham dự phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội và phát biểu về các vấn đề có liên quan.
  Điều 59. Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu các tổ chức thành viên của Mặt trận được mời tham dự phiên họp Uỷ ban thường vụ Quốc hội về vấn đề có liên quan và có quyền phát biểu ý kiến.
Chương V — BỘ MÁY GIÚP VIỆC VÀ KINH PHÍ HOẠT ĐỘNG CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
  Điều 60.
  Điều 61. Kinh phí hoạt động của Uỷ ban thường vụ Quốc hội là một khoản trong kinh phí hoạt động của Quốc hội.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.