Văn bản

Văn bản 305-TC/BH

ban hành Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển (QTC-1990)

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
09/08/1990
Ngày có hiệu lực
09/08/1990
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bố cục (38 điều)

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển (QTC-1990).
Điều 2. Bãi bỏ Quy tắc chung về bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển ban hành năm 1965.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký. Các đồng chí Tổng Giám đốc Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam, Chánh Văn phòng Bộ Tài chính và thủ trưởng các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Điều 1. Quy tắc chung này áp dụng cho mọi bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển bao gồm giá trị hàng hoá, lãi ước tính nếu có, phí bảo hiểm, cước phí và các chi phí khác liên quan. Quy tắc này còn có thể áp dụng cho cả việc bảo hiểm hàng hoá vận chuyển nối tiếp bằng đường bộ, đường sông hoặc đường không.
Điều 2.
Điều 3. Trong trường hợp hàng hoá được bảo hiểm theo điều kiện "B" hay "C" nếu người được bảo hiểm yêu cầu người bảo hiểm có thể nhận trách nhiệm bảo hiểm thêm một hay nhiều loại rủi ro phụ dưới đây với điều kiện phải trả thêm phí bảo hiểm theo thoả thuận:
Điều 4. Người bảo hiểm không chịu trách nhiệm bồi thường những mất mát, hư hỏng xảy ra cho hàng hoá xếp trên boong tàu trái với tập quán thương mại. Đối với hàng hoá xếp trên boong tàu phù hợp với tập quán thương mại chỉ có thể được bảo hiểm theo điều kiện "C".
Điều 5. Nếu theo tập quán địa phương cần phải sử dụng sà lan hoặc các phương tiện vận chuyển khác để chuyên chở hàng hoá được bảo hiểm từ tàu biển vào bờ hoặc ngược lại thì người bảo hiểm cũng sẽ chịu trách nhiệm đối với rủi ro về sà làn như đã ghi trong Điều 2 Quy tắc này. Tuy nhiên, quy định này không bao gồm trường hợp sà lan dùng vào việc chứa hàng ngoài quá trình vận chuyển bình thường.
Điều 6. Trừ khi có thoả thuận khác, người bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm đối với:
Điều 7. Trong mọi trường hợp người bảo hiểm không chịu trách nhiệm đối với:
Điều 8.
Điều 9.
Điều 10. Nếu người được bảo hiểm khai báo sai hoặc giấu giếm những điểm đề ra trong giấy yêu cầu bảo hiểm hay những sự việc thay đổi đã được thông báo cho người bảo hiểm, thì người bảo hiểm được miễn trách nhiệm đã quy định trong hợp đồng bảo hiểm mà vẫn có quyền nhận phí bảo hiểm.
Điều 11. Nếu hợp đồng bảo hiểm được ký kết khi đã xảy ra tổn thất trong phạm vi trách nhiệm của hợp đồng thì hợp đồng vẫn giữ nguyên giá trị, nếu người được bảo hiểm không hay biết gì về tổn thất đó. Nhưng nếu người được bảo hiểm đã biết có tổn thất rồi thì người bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường mà vẫn có quyền nhận phí bảo hiểm.
Điều 12. Đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm có thể được chuyển nhượng cho một người khác sau khi người được bảo hiểm hay đại diện có thẩm quyền của họ ký ở mặt sau đơn hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm.
Điều 13.
Điều 14. Trừ khi có thoả thuận khác, trong số tiền bảo hiểm khai báo, người được bảo hiểm có thể tính gộp cả tiền lãi ước tính. Tuy nhiên, tiền lãi này không được vượt quá 10% giá trị bảo hiểm.
Điều 15.
Điều 16.
Điều 17.
Điều 18. Khi xảy ra mất mát hay hư hỏng thuộc phạm vi trách nhiệm hợp đồng bảo hiểm, người được bảo hiểm phải thông báo ngay cho người bảo hiểm hay đại lý họ chỉ định đến giám định. Nếu người bảo hiểm không có đại lý địa phương thì người được bảo hiểm có thể yêu cầu giám định viên có đăng ký ở nơi đó đến giám định.
Điều 19.
Điều 20. Trong mọi trường hợp, người được bảo hiểm hay đại lý của họ có trách nhiệm đảm bảo thực hiện và bảo lưu đầy đủ cho người bảo hiểm quyền khiếu nại đối với người chuyên chở, người nhận uỷ thác hàng hoá hay người thứ ba khác. Đặc biệt, họ cần làm theo những quy định sau đây:
Điều 21. Khi đòi người bảo hiểm bồi thường về những mất mát hay hư hỏng thuộc trách nhiệm hợp đồng bảo hiểm, người được bảo hiểm cần nộp đủ giấy tờ chứng minh, trong đó tuỳ trường hợp liên quan phải có:
Điều 22.
Điều 23. Nếu tàu chở hàng bị mất tích thì hàng hoá được bảo hiểm sẽ được coi là tổn thất toàn bộ thực tế.
Điều 24. Khi hàng hoá được bảo hiểm bị tổn thất toàn bộ, thì số tiền bồi thường được xác định bằng tổng giá trị hàng hoá khi còn nguyên vẹn trừ đi tổng giá trị hàng hoá còn lại sau khi đã bị tổn thất tại nơi nhận hàng trên cơ sở tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị bảo hiểm.
Điều 25. Trường hợp có tổn thất chung thuộc phạm vi trách nhiệm hợp đồng bảo hiểm thì số tiền đóng góp tổn thất chung của người được bảo hiểm sẽ được người bảo hiểm bồi thường lại đầy đủ. Tuy nhiên số tiền bảo hiểm của hàng hoá lại thấp hơn giá trị đóng góp tổn thất chung thì người bảo hiểm chỉ chịu trách nhiệm bồi thường tiền đóng góp tổn thất chung theo tỷ lệ giữa số tiền bảo hiểm và giá trị đóng góp.
Điều 26. Trách nhiệm của người bảo hiểm chỉ giới hạn ở số tiền bảo hiểm. Tuy nhiên, người bảo hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm đối với số tổn thất cộng với các chi phí cứu hộ, phí giám định, chi phí đánh giá và bán lại hàng hoá tổn thất, chi phí đòi người thứ ba bồi thường và tiền đóng góp tổn thất chung, dù cho tổng số tiền bồi thường như vậy có thể vượt quá số tiền bảo hiểm.
Điều 27. Người bảo hiểm có quyền được miễn mọi trách nhiệm quy định trong hợp đồng bảo hiểm bằng cách khước từ quyền lợi về hàng hoá bảo hiểm và quyền khiếu nại người thứ ba, đồng thời bồi thường cho người được bảo hiểm toàn bộ số tiền bảo hiểm.
Điều 28.
Điều 29.
Điều 30. Với điều kiện phải thực hiện những quy định trên, khi người bảo hiểm bồi thường một vụ tổn thất toàn bộ có thể bồi thường tất cả hoặc nguyên một phần hàng được bảo hiểm, họ còn có quyền thu hồi những gì còn lại của phần hàng hoá đã được bồi thường theo hình thức đó.
Điều 31.
Điều 32. Hợp đồng bảo hiểm không có hiệu lực đối với lợi ích của người chuyên chở, người nhận uỷ thác hàng hoá hay người bảo hiểm cháy.
Điều 33. Người được bảo hiểm phải hành động khẩn trương hợp lý trong những tình huống có thể chủ động được và người bảo hiểm có quyền từ chối bồi thường cho những vụ tổn thất phát sinh do người được bảo hiểm không hoàn thành nghĩa vụ đó.
Điều 34. Quyền đòi bồi thường của người được bảo hiểm sẽ hết hiệu lực sau 2 năm kể từ ngày phát sinh quyền đó.
Điều 35. Bất kỳ một vụ tranh chấp nào có liên quan đến hợp đồng bảo hiểm mà không giải quyết được bằng hình thức thương lượng giữa người được bảo hiểm và người bảo hiểm đều phải chuyển tới Toà án, Trọng tài Nhà nước hay bất kỳ một tổ chức trọng tài nào khác do các bên thoả thuận để giải quyết hoặc Trọng tài hàng hải Việt Nam nếu một trong hai bên tham gia hợp đồng là người nước ngoài. Kết luận của Toà án hoặc Trọng tài sẽ là quyết định cuối cùng ràng buộc hai bên.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.