Văn bản

Văn bản 31/CP

Ban hành Quy chế quản chế hành chính

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
14/04/1997
Ngày có hiệu lực
29/04/1997
Hết hiệu lực
21/03/2007
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Được hướng dẫn bởi (1)

Hướng dẫn thi hành (2)

Bố cục (31 điều)

Điều 1. Nay ban hành kèm theo Nghị định này "Quy chế quản lý hành chính".
Điều 2. Nghị định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký. Các quy định về quản chế hành chính trước đây đều bãi bỏ.
Điều 3. Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
Điều 1. Quản chế hành chính là biện pháp xử lý hành chính, buộc những người có hành vi vi phạm pháp luật quy định tại Điều 2 Quy chế này phải cư trú, làm ăn sinh sống ở một địa phương nhất định và chịu sự quản lý, giáo dục của chính quyền, nhân dân địa phương.
Điều 2. Quản chế hành chính được áp dụng đối với những người có hành vi vi phạm pháp luật xâm phạm đến an ninh quốc gia được quy định tại Chương I phần các tội phạm của Bộ luật hình sự nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 3. Quản chế hành chính phải đúng đối tượng, thẩm quyền, thủ tục và trình tự được quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và Quy chế này.
Điều 4. Quyết định quản chế hành chính được thi hành tại nơi cư trú của người bị quản chế. Trường hợp xét thấy không thể để người bị quản chế hành chính cư trú ở những nơi quan trọng, xung yếu về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng hoặc những nơi mà người bị quản chế có điều kiện tiếp tục vi phạm pháp luật phương hại đến lợi ích quốc gia, thì Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) quyết định quản chế hành chính họ ở nơi khác nhưng trong phạm vi tỉnh, thành phố. Khi chấp hành xong quyết định quản chế người bị quản chế được trở về nơi cư trú cũ của mình.
Điều 5. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm lập hồ sơ đối với những người cần áp dụng biện pháp quản chế hành chính, trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.
Điều 6. Hồ sơ đề nghị quản chế hành chính gồm:
Điều 7. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ do cơ quan công an cấp huyện chuyển đến, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện phải xem xét, đề nghị bằng văn bản và trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
Điều 8. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thành lập Hội đồng tư vấn gồm đại diện, lãnh đạo Công an cấp tỉnh, Sở Tư pháp và Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh. Đại diện lãnh đạo cơ quan công an cấp tỉnh là Thường trực Hội đồng tư vấn.
Điều 9. Thường trực Hội đồng tư vấn có trách nhiệm tổ chức, chuẩn bị các tài liệu cần thiết, chủ trì cuộc họp, lập biên bản cuộc họp của Hội đồng và thay mặt Hội đồng làm văn bản đề nghị quản chế hành chính trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định.
Điều 10. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, Hội đồng tư vấn họp để xét duyệt hồ sơ, làm văn bản trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định. Văn bản trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi cư trú, nghề nghiệp và tóm tắt tài liệu về các vi phạm pháp luật của người cần quản chế hành chính, các ý kiến và kết luận của Hội đồng tư vấn; thời hạn và nơi thi hành quyết định quản chế.
Điều 11. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xem xét ra quyết định quản chế hành chính trong thời gian 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị quản chế hành chính của Hội đồng tư vấn.
Điều 12. Trong thời hạn 3 ngày, kể từ ngày ký quyết định quản chế hành chính, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phải gửi quyết định cho người bị quản chế hành chính, Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Uỷ ban nhân dân và cơ quan công an cấp huyện, Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người bị quản chế cư trú và nơi người đó thi hành quyết định quản chế.
Điều 13. Khi đã chấp hành được một nửa thời hạn quản chế, nếu người bị quản chế hành chính có tiến bộ rõ rệt hoặc lập công theo các quy định sau đây thì có thể được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xét giảm thời hạn quản chế, theo đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi người đó thi hành quyết định quản chế.
Điều 14. Cơ quan công an cấp huyện và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi người bị quản chế sinh sống có trách nhiệm giúp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong việc xem xét, làm văn bản trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh xét giảm thời hạn quản chế cho người bị quản chế hành chính.
Điều 15. Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định quản chế hành chính, người bị quản chế phải trình diện với Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi mình thi hành quyết định quản chế. Thời hạn quản chế bắt đầu tính từ ngày người bị quản chế đến trình diện.
Điều 16. Người bị quản chế hành chính phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của Nhà nước, Quy chế quản chế hành chính, được học tập, lao động, để trở thành người tốt.
Điều 17. Trong thời hạn quản chế, người bị quản chế hành chính phải cư trú, làm ăn sinh sống tại xã, phường, thị trấn nơi thi hành quyết định quản chế hành chính và phải chịu sự quản lý, giáo dục của chính quyền, nhân dân địa phương; chỉ được đi lại trong phạm vi nơi người đó bị quản chế. Nếu có lý do chính đáng, người bị quản chế muốn đi ra khỏi phạm vi xã, phường, thị trấn thì phải làm đơn xin phép và tuân theo các quy định sau đây:
Điều 18. Một tháng một lần, người bị quản chế hành chính phải đến trình diện và báo cáo việc thực hiện quyết định quản chế hành chính của mình tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi thi hành quyết định quản chế.
Điều 19. Người đang bị quản chế hành chính không được giữ các chức vụ lãnh đạo trong các cơ quan chính quyền, tổ chức xã hội, đoàn thể quần chúng và không được hành nghề kinh doanh đặc biệt hoặc một số nghề nghiệp khác mà với các nghề đó người bị quản chế có điều kiện để vi phạm pháp luật.
Điều 20. Người bị quản chế hành chính có quyền khiếu nại, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật về quản chế hành chính của người, cơ quan thi hành quyết định quản chế hành chính theo quy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính.
Điều 21. Người bị quản chế hành chính vi phạm Quy chế quản chế hành chính hoặc có hành vi vi phạm pháp luật khác thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 22. Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người bị quản chế thi hành quyết định có trách nhiệm quản lý, giáo dục và tạo điều kiện thuận lợi cho người bị quản chế hành chính làm ăn sinh sống, ba tháng một lần phải làm báo cáo gửi Uỷ ban nhân dân cấp huyện về việc quản lý giáo dục người bị quản chế hành chính đang chấp hành các quy định quản chế tại địa phương.
Điều 23. Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện các quy định về quản chế hành chính; ba tháng một lần phải báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh về tình hình thực hiện quản chế hành chính.
Điều 24. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra Uỷ ban nhân dân cấp dưới thực hiện các quy định về quản chế, hàng năm phải làm báo cáo gửi Bộ Nội vụ về tình hình thực hiện quản chế hành chính ở địa phương.
Điều 25. Cơ quan công an có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp trong việc thi hành quyết định quản chế của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
Điều 26. Khi hết thời hạn quản chế hành chính, Uỷ ban nhân dân cấp xã cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong quyết định quản chế cho người bị quản chế, đồng thời gửi bản sao giấy chứng nhận đó đến Uỷ ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
Điều 27. Cơ quan, người có thẩm quyền thi hành quyết định quản chế hành chính phải nghiêm chỉnh thi hành những quy định về quản chế, không được gây khó khăn, cản trở việc làm ăn, sinh sống bình thường của người bị quản chế; nếu có hành vi vi phạm pháp luật, thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại về vật chất cho người bị quản chế hành chính thì phải bồi thường.
Điều 28. Bộ Nội vụ có trách nhiệm hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện Quy chế này, ban hành mẫu quyết định, giấy chứng nhận, giấy phép, giấy triệu tập và các biểu mẫu khác có liên quan đến việc thi hành biện pháp quản chế hành chính./.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.