Quyết định · Bộ Tài chính

Quyết định 34/2004/QĐ-BTC

của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc Ban hành các quy phạm về bảo quản hàng hoá Dự trữ Quốc gia

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
14/04/2004
Ngày có hiệu lực
22/05/2004
Hết hiệu lực
26/09/2009
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bị thay thế / bãi bỏ bởi (4)

Hướng dẫn thi hành (2)

Bố cục (132 điều)

Điều 1. Ban hành các quy phạm về bảo quản hàng hoá Dự trữ Quốc gia, gồm:
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng công báo. Quyết định này thay thế Quyết định số 03/2000/QĐ-CDTQG ngày 13/01/2000 của Cục trưởng Cục Dự trữ Quốc gia về việc ban hành các quy phạm về bảo quản hàng hoá dự trữ Quốc gia. Các quy định khác trái Quyết định này đều bị bãi bỏ.
Điều 3. Cục trưởng Cục Dự trữ Quốc gia, Chánh Văn phòng Bộ và Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ Tài chính trong phạm vi chức năng, quyền hạn của mình có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện và kiểm tra việc thi hành Quyết định này./.
Điều 1. Quy phạm này được áp dụng cho việc bảo quản thóc dự trữ quốc gia (DTQG) theo phương pháp bảo quản đổ rời hoặc đóng bao, trong điều kiện sản xuất nông nghiệp, phương pháp thu mua, giao nhận, cơ sở vật chất kỹ thuật và các loại hình kho bảo quản hiện tại.
Điều 2. Thời gian lưu kho bảo quản thóc theo đặc điểm thời vụ, yêu cầu luân phiên đổi hạt và phương thức bảo quản như sau:
Điều 3. Kho bảo quản thóc DTQG phải là kho kiên cố, đảm bảo các điều kiện sau:
Điều 4. Thóc nhập kho DTQG phải là thóc mới thu hoạch, được làm khô ở nhiệt độ bình thường và đảm bảo các yêu cầu về chất lượng được quy định tại tiêu chuẩn TCN 04:2004:Thóc DTQG- yêu cầu kỹ thuật, do Bộ Tài chính ban hành.
Điều 5. Chuẩn bị kho để nhập thóc
Điều 6. Khử trùng kho, bao bì và dụng cụ chứa đựng thóc
Điều 7. Chuẩn bị dụng cụ nhập thóc
Điều 8. Kiểm tra thóc trước khi nhập kho
Điều 9. Cân nhập:
Điều 10. Chuyển thóc vào kho
Điều 11. Làm thủ tục nhập đầy ngăn, lô
Điều 12. Lấy mẫu kiểm nghiệm:
Điều 13. Kiểm nghiệm mẫu
Điều 14. Vệ sinh kho, lô hàng: Nhặt sạch rơm, rác, tạp chất sau mỗi lần cào đảo; quét sạch thóc rơi vãi ở sàn, gầm kho; thu dọn các trang thiết bị, dụng cụ và để ở nơi quy định.
Điều 15. Hoàn chỉnh quá trình chín sau thu hoạch: Thủ kho phải chú trọng đến quá trình chín sau thu hoạch cho khối hạt. Cào đảo lớp thóc mặt mỗi ngày một lần, thực hiện các giải pháp thông thoáng để giải phóng ẩm nhiệt cho khối hạt theo cả chiều dọc và chiều ngang. Kiểm tra diễn biến về nhiệt độ và độ ẩm của khối hạt.
Điều 16. Kiểm tra, xử lý chất lượng thóc trước khi bảo quản kín
Điều 17. Quy trình bảo quản thóc tóm tắt:
Điều 18. Các thông số và điều kiện tiêu chuẩn  bảo quản thóc an toàn
Điều 19. Cào đảo, thông gió
Điều 20. Chế độ kiểm tra và vệ sinh trong bảo quản thóc
Điều 21. Công tác phòng trừ sinh vật hại
Điều 22. Xử lý các sự cố trong bảo quản thóc đổ rời
Điều 23. Quy trình bảo quản thóc đổ rời phủ kín bằng trấu
Điều 24. Lấy mẫu kiểm nghiệm trước khi xuất kho:
Điều 25. Trong khi xuất thóc
Điều 26. Nguyên tắc chung là thủ kho nào cân nhập thì thủ kho đó cân xuất. Trường hợp có lý do đặc biệt thì thực hiện theo quy định về quy chế bàn giao kho theo quy định hiện hành.
Điều 27. Sau khi xuất hết thóc:
Điều 28. Thanh toán khối lượng thóc sau quá trình bảo quản: Kỹ thuật viên và kế toán cơ sở tính toán hao hụt theo chiết toán vật chất khô, đối chiếu số lượng hao hụt thực tế và định mức, xem xét đánh giá kết quả bảo quản. Thủ kho có trách nhiệm giải trình cụ thể từng trường hợp xuất kho, đặc biệt những ngăn kho có hao hụt quá định mức.
Điều 29. Chế độ báo cáo: Nghiêm chỉnh chấp hành chế độ báo cáo theo quy định:
Điều 30. Cục trưởng Cục Dự trữ quốc gia trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình chịu trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị dự trữ quốc gia khu vực tổ chức thực hiện.
Điều 31. Các tổ chức, cá nhân liên quan đến nhiệm vụ bảo quản thóc dự trữ quốc gia có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc Qui phạm này.
Điều 1. Qui phạm này được áp dụng cho việc bảo quản gạo dự trữ quốc gia được áp dụng theo công nghệ bảo quản kín có nạp khí CO2 (hoặc khí N2) với nồng độ nhất định hoặc hút khí thường xuyên duy trì trạng thái yếm khí để ngăn ngừa sâu mọt, men mốc phát triển, đồng thời kìm hãm quá trình sinh lý, sinh hoá bất lợi của khối hạt và môi trường bảo quản, nhằm kéo dài thời gian lưu kho so với các phương pháp bảo quản thông thường.
Điều 2. Thời gian lưu kho bảo quản gạo thích hợp theo tính chất kỹ thuật bảo quản và yêu cầu tiêu dùng thường xuyên đối với bảo quản đến 9 tháng, trường hợp cần thiết có thể bảo quản đến 12 tháng.
Điều 3. Gạo đưa vào bảo quản phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật trên cơ sở tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5644-1999, bao gồm các nội dung: phân loại gạo, yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử. Trong đó, yêu cầu chất lượng phải đảm bảo:
Điều 4. Kho để bảo quản gạo phải đảm bảo các yêu cầu sau :
Điều 5. Qui cách và định vị lô gạo :
Điều 6. Bao bì đóng gói:
Điều 7. Khí CO2 và khí N2 :
Điều 8. Palet phải đảm bảo chắc chắn, khô sạch (không bị mối, mọt, mốc). Các góc cạnh của palet tiếp xúc với tấm phủ, tấm sàn phải được bào nhẵn, các đầu đinh phải đóng chìm vào trong gỗ để không làm rách màng PVC.
Điều 9. Tấm sàn sử dụng màng PVC (Polyvinylclorua) có độ dày ³ 0,7 mm dán ghép nối lại với nhau. Mối ghép nối có bề rộng 5 cm.
Điều 10. Tấm phủ sử dụng màng PVC có độ dày 0,3 mm, trường hợp gạo bảo quản yếm khí dùng màng PVC có độ dày 0,5 mm dán ghép nối với nhau. Mối dán ghép rộng 5 cm.
Điều 11. Thiết bị - dụng cụ :
Điều 12. Trải tấm sàn và xếp palet :
Điều 13. Nhập gạo vào kho :
Điều 14. Chất xếp gạo :
Điều 15. Phủ và dán kín lô :
Điều 16. Thử độ kín :
Điều 17. Hút khí tăng cường :
Điều 18. Bảo quản gạo bằng CO2 :
Điều 19. Bảo quản gạo bằng khí N2 :
Điều 20. Bảo quản gạo bằng phương pháp yếm khí :
Điều 21. Vệ sinh.
Điều 22. Lập biên bản theo nội dung :
Điều 23. Kiểm tra lô gạo bảo quản :
Điều 24. Trách nhiệm trong công tác bảo quản gạo :
Điều 25. Công tác chuẩn bị :
Điều 26. Việc xuất kho phải tiến hành dứt điểm từng lô. Trong một lô xuất theo từng hàng bao từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong. Thời gian xuất mỗi lô không quá 10 ngày tính từ lúc mở tấm phủ.
Điều 27. Khi xuất hết lô :
Điều 28. Tổ chức lao động :
Điều 29. Bảo hộ và an toàn lao động:
Điều 30. Cục trưởng Cục Dự trữ quốc gia trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình chịu trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo các đơn vị dự trữ quốc gia khu vực tổ chức thực hiện.
Điều 31. Các tổ chức, cá nhân liên quan đến nhiệm vụ bảo quản gạo dự trữ quốc gia có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc Qui phạm này.
Điều 1. Quy phạm này quy định toàn bộ các công việc về bảo quản ôtô, xe máy dự trữ quốc gia từ khi nhập đến khi xuất khỏi kho dự trữ.
Điều 2. Ôtô, xe máy dự trữ quốc gia quy định trong quy phạm này bao gồm các loại ôtô, máy kéo, xe máy chuyên dùng hoặc xe máy có gắn máy công tác có nguồn động lực là động cơ đốt trong sử dụng nhiên liệu xăng hoặc diesel. Phần thiết bị chuyên dùng hoặc các máy công tác như: thiết bị y tế, thiết bị bưu điện, phần máy phát điện, phần bơm . . .
Điều 3. Ôtô, xe máy đưa vào dự trữ quốc gia phải là ôtô, xe máy mới, chưa qua sử dụng, đồng bộ, có tình trạng kỹ thuật tốt. Có hành trình chạy, không quá 500 km (di động bằng bánh lốp) hoặc thời gian làm việc của động cơ không quá 10 giờ (di động bằng bánh xích) và thời gian từ khi sản xuất đến khi nhập kho dự trữ quốc gia dưới 12 tháng. Đối với ôtô, xe máy đưa vào dự trữ quốc gia từ các nguồn khác (đã qua sử dụng, không đồng bộ . . .) theo yêu cầu của Chính phủ sẽ có quy định, hướng dẫn cụ thể riêng.
Điều 4. Thời gian lưu kho của Ôtô, xe máy:
Điều 5. Tuyệt đối không được đem ôtô, xe máy dự trữ quốc gia, kể cả phụ tùng, đồ nghề kèm theo ra sử dụng.
Điều 6. Khi di chuyển ôtô, xe máy dự trữ quốc gia từ nơi nhận về kho hoặc giữa các Tổng kho, các Dự trữ quốc gia khu vực không được kết hợp chở hàng. Trường hợp kết hợp xe tải chở xe con phải chèn, buộc cẩn thận, không làm xây xước xe và trọng lượng xe được chở không vượt quá 30% tải trọng xe tải.
Điều 7. Yêu cầu về kho:
Điều 8. Trong quá trình ôtô, xe máy lưu kho phải mở hệ thống sổ sách ở Vùng kho, Tổng kho và Dự trữ quốc gia khu vực để theo dõi toàn bộ quá trình bảo quản, những biến động về chất lượng của từng xe. Đối với mỗi thủ kho phải có sổ nhật ký bảo quản để theo dõi số ôtô, xe máy do mình quản lý.
Điều 9. Ôtô, xe máy khi đưa vào dự trữ quốc gia phải đảm bảo tiêu chuẩn như đã nêu tại điều 3, điều 6.
Điều 10. Kiểm tra sơ bộ bên ngoài:
Điều 11. Kiểm tra sự làm việc của các hệ thống:
Điều 12. Kiểm tra sự làm việc không tải của các hệ thống phần công tác:
Điều 13. Tẩy rửa xe
Điều 14. Quy hoạch, sắp xếp ôtô xe máy trong kho.
Điều 15. Kê kích ôtô, xe máy
Điều 16. Trình tự phát động ôtô, xe máy để kiểm tra và sấy khô các hệ thống (thực hiện như điều 17), làm sạch và bảo quản thùng nhiên liệu, các bình lọc nhiên liệu, lọc dầu nhờn, lọc không khí, săm lốp dự phòng, ắc quy, dụng cụ đồ nghề, chống rỉ cho ôtô, xe máy (thực hiện như các điều từ 18-22). Đối với ôtô, xe máy bánh lốp đã chạy trên 300 km thì phải thay dầu động cơ ngay sau khi nổ máy kiểm tra.
Điều 17. Phát động định kỳ
Điều 18. Bảo quản sau phát động
Điều 19. Chống rỉ cho ôtô, xe máy:
Điều 20. Dụng cụ đồ nghề theo xe: Mỗi năm 1 lần được lau chùi sạch, tẩy rỉ và bọc bằng giấy nến.
Điều 21. ắc quy theo xe nếu là ắc quy khô được bảo quản như ắc quy dự trữ. Nếu là ắc quy ướt (đã đổ điện dich) được bảo quản ở kho riêng trên giá bê tông, xếp 1 lượt mặt, vỏ ắc quy được lau khô sạch hàng tuần. Mức điện dịch trong từng ngăn phải cao hơn tấm cực hoặc lưới ngăn 10- 15 mm. Hàng tháng phải nạp điện bổ sung đến khi ắc quy no điện. Thời hạn bảo quản ắc quy ướt dưới 1 năm.
Điều 22. Đối với các loại ôtô, xe máy có trang thiết bị chuyên dùng như thông tin, y tế . . . ở trên thùng xe, khi bảo quản chỉ lau chùi bên ngoài các trang bị hoặc dùng máy hút bụi theo định kỳ phát động hút sạch bụi bẩn. Định kỳ theo mỗi lần phát động phải kiểm tra các thiết bị chuyên dùng, nếu phát hiện bị hư hỏng, sự cố thì phải xử lý ngay.
Điều 23. Vệ sinh kho và bên ngoài xe mỗi tuần 1 lần quét sạch sàn kho, dùng giẻ sạch, mềm, ẩm để lau chùi vỏ xe, dùng máy hút bụi để làm sạch gầm xe, thùng xe.
Điều 24. Tất cả các hư hỏng, mất mát các chi tiết, bộ phận của ôtô xe máy trong quá trình lưu kho, Tổng kho phải lập biên bản nêu rõ hiện tượng, nguyên nhân, quy rõ trách nhiệm và báo cáo Dự trữ quốc gia khu vực để có giải pháp xử lý.
Điều 25. Kho bảo quản ôtô xe máy phải được trang bị và tổ chức tốt công tác phòng chống cứu hoả theo quy định của công tác phòng chống cứu hoả: trang bị các bình cứu hoả, bể chứa nước hoặc họng nước cứu hoả, bể cát dự trữ, thang cứu hoả, xô múc nước . . . có phương án cứu hoả khi có tình huống xẩy ra.
Điều 26. Đối với các khâu bảo quản có liên quan đến dầu mỡ, nhiên liệu phải tuyệt đối cách ly các nguồn lửa hoặc các nguồn dễ phát sinh ra lửa. Khi chưng cất dầu máy không được đun trực tiếp dầu máy trên ngọn lửa.
Điều 27. Thường xuyên kiểm tra độ ổn định của ôtô xe máy, đặc biệt trước khi phát động nổ máy trên giá kê.
Điều 28. Công nhân bảo quản phải được trang bị đầy đủ trang thiết bị bảo hộ lao động: quần áo, khẩu trang . . . theo quy định.
Điều 29. Cục Dự trữ Quốc gia chịu trách nhiệm hướng dẫn và chỉ đạo  thực hiện. Trong quá trình thực hiện khi cần thiết sẽ được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp.
Điều 30. Các Dự trữ quốc gia khu vực có trách nhiệm chỉ đạo, giám sát và hướng dẫn các Tổng kho thực hiện tốt quy phạm này.
Điều 31. Các đơn vị, cá nhân thực hiện tốt quy phạm bảo quản ôtô, xe máy được khen thưởng, vi phạm sẽ xử lý theo các quy định hiện hành ./.
Điều 1. Đối tượng bảo quản nêu trong qui phạm này là các sản phẩm luyện kim, gồm : Kim loại đen, kim loại mầu và các sản phẩm luyện kim khác.
Điều 2. Qui phạm này quy định các công việc liên quan đến chất lượng kim loại nhập kho dự trữ, vận chuyển, xắp xếp qui hoạch nhà kho và bảo quản kim loại dự trữ quốc gia.
Điều 3. Thủ trưởng các đơn vị dự trữ có cất giữ, bảo quản kim loại dự trữ; kỹ thuật viên phụ trách công tác bảo quản kim loại; người trực tiếp bảo quản và các thủ kho kim loại phải hiểu biết đầy đủ, nắm vững các qui định và tuyệt đối tuân thủ qui phạm này.
Điều 4. Yêu cầu về nhà kho:
Điều 5. Yêu cầu về nền nhà kho bảo quản kim loại:
Điều 6. Kim loại nhập kho dự trữ quốc gia phải đảm bảo yêu cầu:
Điều 7. Nguyên tắc phân nhóm bảo quản: Căn cứ vào thành phần cấu tạo, qui cách, trọng lượng kim loại, yêu cầu bảo quản và các yêu cầu sử dụng của kim loại. Kim loại dự trữ được chia thành 3 nhóm bảo quản sau đây:
Điều 8. Yêu cầu lớp phủ bảo vệ bề mặt kim loại phải bảo đảm  ngăn ngừa được sự tác động của môi trường (nước, độ ẩm, bụi bẩn, các chất khí xâm thực gây ăn mòn…). Những chất phủ thường sử dụng như: Sơn các loại; dầu mỡ thông thường; các dầu mỡ chuyên dùng có chất ức chế ăn mòn kim loại.
Điều 9. Dầu mỡ bảo quản:
Điều 10. Chất ức chế ăn mòn kim loại được bổ sung vào thành phần của dầu, mỡ bảo quản để nâng cao khả năng chống ăn mòn kim loại. Một số chất ức chế ăn mòn thường dùng là: Các hợp chất hữu cơ của nhôm ; xà phòng nhôm và các xít tổng hợp; hoặc cao su thiên nhiên.
Điều 11. Hỗn hợp dầu, mỡ thông thường dùng cho bảo quản kim loại đen, thành phần gồm có:
Điều 11. Tất cả các kim loại (trừ gang đúc) đều phải được xếp trên giá kê, bục kê kể cả các kim loại bảo quản ngoài bãi chứa.
Điều 12. Giá kê, bục kê:
Điều 13. Yêu cầu về kê xếp kim loại:
Điều 14. Khi nhập kho dự trữ:
Điều 15. Kỹ thuật kê xếp kim  loại:
Điều 16. Việc bảo quản kim loại phải đảm bảo kỹ thuật như sau:
Điều 17. Kim loại đen được bảo quản bằng dầu, mỡ. Tuỳ thuộc vào độ bền cơ  học của từng loại dầu, mỡ được sử dụng bảo quản; tình trạng han rỉ thực tế của kim loại; điều kiện kho cất giữ kim loại và công dụng của từng loại kim loại để quyết định chu kỳ thời gian dãn cách giữa 2 lần bảo quản định kỳ liên tiếp. Đơn vị có kế  hoạch bảo quản kim loại phải thực hiện việc đánh giá, kiểm tra và báo cáo Cục Dự trữ quốc gia kết quả.
Điều 18. Bảo quản định kỳ kim loại mầu các loại, định kỳ từ 6 tháng đến 12 tháng kiểm tra toàn bộ bề mặt kim loại màu, phát hiện han rỉ phải tiến hành xử lý sạch các vết rỉ. Sau đó dùng các chất bảo vệ bề mặt thích hợp bao phủ kín nơi bị han rỉ đã được xử lý. Hoặc bọc kín lại bằng giấy cách ẩm.
Điều 19. Những kim loại mầu nhạy cảm với tác động của môi trường, cần được bảo quản trên các giá kê trong môi trường khô, sạch. Có thể phủ kín các thỏi kim loại bằng một lớp Paraphin trung tính mỏng và bọc kín hoặc đóng hòm bảo quản.
Điều 20. Thiếc kim loại ở các dạng được bảo quản trong kho kín, mát. Trong kho về mùa lạnh cố gắng đảm  bảo nhiệt độ không nhỏ hơn 12 độ C cho các lô hàng là thiếc kim loại.
Điều 21. Chì kim loại các loại được bảo quản trong kho thoáng khí, độ ẩm thấp, tránh để chì tíêp xúc với nước mưa. Khi bảo quản, vận chuyển, bốc xếp cần nhẹ tay.
Điều 22. Các loại đồng, nhôm dạng tấm, lá mỏng, dây sợi có đường kính nhỏ (từ 1-2mm) bảo quản ở những nơi khô ráo. Đối với nhôm kim loại các loại khi bị mốc phải dùng giẻ mềm lau sạch, bôi phủ lên bề mặt một lớp dầu, mỡ bảo quản thích hợp rồi bọc kín lại bằng giấy cách ẩm.
Điều 23. Bảo quản bao bì, kiện gỗ, ký mã hiệu của kim loại:
Điều 24. Trong quá trình vận chuyển:
Điều 25. Các phương tiện, công cụ bảo quản khi dùng bảo quản định kỳ kim loại  có điều kiện tiếp xúc với dầu, mỡ nhiên liệu dễ cháy phải được chế tạo bằng các vật liệu đặc biệt, tránh phát ra các tia lửa do ma sát trong quá trình lao động.
Điều 26. Tổ chức tốt việc phòng chống cháy nổ, bố trí người và phương tiện sẵn sàng chữa cháy trong trường hợp cần thiết. Đặc biệt, khi bảo quản dầu mỡ kim loại nếu xảy ra cháy nhiên liệu phải nhanh chóng dùng bình cứu hoả, hoặc cát để dật tắt đám cháy.
Điều 27. Khi pha trộn hỗn hợp dầu, mỡ bảo quản phải đun cách thuỷ, không được đun trực tiếp hỗn hợp dầu bảo quản trên ngọn lửa.
Điều 28. Dầu, mỡ bảo quản khi bám vào người được rửa sạch bằng nước nóng và xà phòng. Người bảo quản kim loại phải sử dụng mặt nạ phòng độc ở nơi có nồng độ hơi nhiên liệu cao. Nơi bảo quản có nhiều bụi, hoặc khi bảo quản chì kim loại phải đeo khẩu trang, nên chọn nơi thoáng khí hoặc có phương tiện thông gió để bảo quản kim loại.
Điều 29. Khối lượng kim loại khi nhập kho phải được thể hiện bằng đơn vị tính khối lượng (Kg) trong các chứng từ theo dõi. Bên cạnh số thể hiện khối lượng Kg phải có số liệu phụ theo dõi. Số liệu phụ là số cây, thanh, thỏi… kim loại tương ứng với khối lượng từng loại kim loại.
Điều 30. Các hồ sơ, chứng từ ban đầu có liên quan đến số lượng, chất lượng, quy cách chủng loại và xuất xứ của hàng hoá phải được quản lý tập trung. Khi có lệnh điều động hàng hoá cho đơn vị khác trong ngành cất giữ, bảo quản. Mọi hồ sơ liên quan phải được chuyển giao cho đơn vị mới quản lý theo qui định.
Điều 31. Hàng hoá sau khi được kê xếp trong kho, các lô hàng đều phải được lập thẻ kho, thẻ lô hàng ghi rõ ràng các thông số:  Khối lượng; qui cách; nước sản xuất ; năm nhập kho dự trữ (trong trường hợp kim loại được điều chuyển cho 1 đơn vị khác trong ngành cất giữ, vẫn phải duy trì thời gian nhập kho của lần nhập kho dự trữ đầu tiên trong thẻ kho và thẻ lô hàng).
Điều 32. Mỗi một mặt hàng kim loại, theo các đợt nhập kho khác nhau phải có một sổ ghi chép, theo dõi riêng về công tác bảo quản. Trong quá trình bảo quản thủ kho có trách nhiệm ghi chép đầy đủ, chính xác các công việc bảo quản đã làm và các sự cố xảy ra đối với hàng hoá. Định kỳ, thủ trưởng phụ trách đơn vị kho phải kiểm tra và có nhận xét đánh giá ghi vào sổ theo dõi công tác bảo quản.
Điều 33. Cục Dự trữ quốc gia chịu trách nhiệm  hướng dẫn và tổ chức thực hiện quy phạm này. Trong quá trình thực hiện nếu có sự thay đổi về công nghệ, cơ chế quản lý sẽ có bổ sung hoặc sửa đổi cho phù hợp với thực tế.
Điều 34. Các đơn vị Dự trữ quốc gia khu vực có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn và giám sát các Tổng kho thực hiện. Các Tổng kho và các nhân liên quan phải thực hiện đầy đủ các công việc bảo quản và quản lý hàng hoá đã qui định.
Điều 35. Các đơn vị, cá nhân thực hiện tốt Quy phạm này sẽ đựoc khen thưởng, nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo các qui định hiện hành ./
Phụ lục  — SỐ 01: BẢNG PHÂN NHÓM KIM LOẠI BẢO QUẢN
Phụ lục  — SỐ 02: DẦU, MỠ BẢO QUẢN KIM LOẠI
Phụ lục  — SỐ 03: CÁCH THỂ HIỆN KÍCH THƯỚC KIM LOẠI

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.