Văn bản · CA

Văn bản 35/NĐ-CA

Về việc quy định thể lệ quản lý khách sạn, quán trọ

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
14/02/1959
Ngày có hiệu lực
01/03/1959
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bố cục (14 điều)

Điều 1. Tất cả những người làm nghề chứa trọ, hoặc chứa trọ không thu tiền trọ nhưng để đạt mục đích kinh doanh nghề khác như mở hàng cơm, tràn ngựa, v.v.đều phải làm thủ tục kê khai tại các cơ quan công an quy định trong nghị định này.
Điều 2. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Uỷ ban hành chính các khu, thành phố, tỉnh công bố nghị định này, tất cả những người làm nghề chứa trọ có từ trước đều phải nộp tại Khu, Sở, Ty Công an địa phương những giấy tờ sau đây:
Điều 3. Những người muốn mở nhà chứa trọ sau ngày công bố nghị định này chỉ được hoạt động sau khi được cấp giấy phép và phải làm thủ tục kê khai nói ở điều 2.
Điều 4. Những người làm nghề chứa trọ ngoài việc làm thủ tục kê khai ở cơ quan công an còn phải chấp hành chính sách đăng ký và quản lý kinh doanh thương nghiệp của cơ quan Thương nghiệp địa phương.
Điều 5. Những người làm nghề chứa trọ sau khi được cấp giấy phép nếu muốn đổi tên hiệu, di nhượng cổ phần, thay đổi, lấy thêm hoặc giảm bớt người phục vụ, thu hẹp hay nới rộng phạm vi chứa trọ, đóng cửa hiệu...đều phải báo cáo cho cơ quan công an trực tiếp quản lý biết trước 10 ngày. Trường hợp thay đổi chủ, nhượng cửa hiệu cho người khác, thay đổi địa điểm hoặc dời cơ sở kinh doanh đi đến tỉnh hay thành phố khác đều phải xin phép Khu, Sở, Ty Công an địa phương trước khi thay đổi.
Điều 6. Những người làm nghề chứa trọ phải làm theo những điểm sau đây:
Điều 7. Mỗi khi có người đến trọ, chủ chứa trọ phải ghi đầy đủ rõ ràng họ và tên, tuổi, nam, hay nữ, quốc tịch, nơi sinh quán, nghề nghiệp hiện tại, chỗ ở hiện tại, ở đâu đến, lý do lưu trú, có giấy chững nhận gì, ngày vào trọ, ngày ra trọ, nới sắp đến của khách trọ và một tờ phiếu (theo mẫu thống nhất của công an) nếu nơi đó có đồn, trạm công an, hoặc ghi vào một quyển sổ (do công an huyện hướng dẫn) nếu nơi đó không có đồn, trạm.
Điều 8. Đối với những nơi có đồn, trạm công an, hàng ngày theo giờ quy định, chủ chứa trọ phải mang phiếu trọ đến nộp cho đồn sở tại kèm theo cuốn sổ trọ và giấy tờ tuỳ thân của các khách trọ. Sau giờ quy định nếu có người đến trọ thì chủ chứa trọ vẫn phải ghi đầy đủ như trên và 7 giờ sáng ngaỳ hôm sau mang phiếu trọ đến nộp đồn, trạm công an.
Điều 9. Khi nhân viên công an đến kiểm soát, chủ chứa trọ có trách nhiệm hướng dẫn tuỳ theo sự yêu cầu của công an.
Điều 10. Những người làm nghề chứa trọ nào không hoạt động liền trong vòng hai tháng mà cơ quan công an địa phương xét ra không có lý do chính đáng thì giấy phép xem như không còn giá trị nữa.
Điều 11. Những người làm nghề chứa trọ nào làm trái những quy định trên đây sẽ tuỳ theo lỗi nặng hay nhẹ mà bị xử lý như sau:
Điều 12. Những người làm nghề chứa trọ nào thi hành nghiêm chỉnh những điều quy định trong nghi định này mà báo cáo đúng và kịp thời cho nhà chức trách tìm ra những vụ phạm pháp quan trọng thì sẽ được khen thưởng.
Điều 13. Những quy định trước đây trái với nghị định này đều bãi bỏ.
Điều 14. Các Uỷ ban hành chính khu, thành phố, tỉnh, các ông Chánh văn phòng, Giám đốc Vụ Trị an dân cảnh Bộ Công an chịu trách nhiệm thi hành nghị định này.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.