Văn bản

Văn bản 427-QĐ

Về việc ban hành Quy chế tạm thời về trường phổ thông lao động

Tình trạng
Ngưng hiệu lực
Ngày ban hành
23/06/1975
Ngày có hiệu lực
08/07/1975
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bố cục (40 điều)

Điều 1. Ban hành "Quy chế tạm thời về trường Phổ thông lao động" (đính kèm theo quyết định này) áp dụng chung cho các trường Phổ thông lao động các cấp huyện, tỉnh, thành phố vàTrung ương.
Điều 2. Các ông Chánh Văn phòng, Vụ trưởng Vụ Bổ túc văn hoá và Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Giáo dục chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Chương I — NHỮNG ĐIỀU KHOẢN CHUNG
  Điều 1. Trường phổ thông lao động được tổ chức ở các cấp huyện, tỉnh (thành phố trực thuộcTrung ương) (1)vàTrung ương là loại trường bổ túc văn hoá tập trung, một tổ chức cơ sở của hệ thống giáo dục phổ thông, nơi học tập văn hoá dành riêng cho cán bộ lãnh đạo quản lý và cán bộ nghiên cứu, chỉ đạo các ngành, các cấp.
  Điều 2. Mục đích của trường Phổ thông lao động là bồi dưỡng cho cán bộ các ngành, các cấp kiến thức văn hoá phổ thông cơ bản, thiết thực, tạo điều kiện tốt cho việc học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, kiến thức khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và quản lý Nhà nước, góp phần nâng cao năng lực hoàn thành mọi nhiệm vụ công tác được giao.
  Điều 3. Nhiệm vụ của trường Phổ thông lao động là tổ chức quản lý việc giảng dạy của giáo viên và việc học tập của học viên theo đúng mục đích, nội dung, phương pháp và kế hoạch giảng dạy do Bộ Giáo dục quy định.
  Điều 4. Trường Phổ thông lao động tổ chức cho học viên học tập trung là chính. Bên cạnh hệ học tập trung - tuỳ theo yêu cầu và khả năng - nhà trường có thể mở những lớp học tại chức thu nhận những học viên thuộc các loại cán bộ giống như đối tượng của các lớp học tập trung.
  Điều 5. Nội dung chương trình học, chế độ thi cử, sách giáo khoa và kế hoạch thời gian học của từng lớp, từng cấp ở các trường Phổ thông lao động phải theo đúng quy định hiện hành (Chỉ thị số 35-CT ngày 25-10-1974 và quy chế thi tốt nghiệp cấp III ngày 21-4-1975 của Bộ Giáo dục).
  Điều 6. Việc thành lập (hay giải thể) các trường Phổ thông lao động huyện và tỉnh do uỷ ban hành chính tỉnh quyết định, căn cứ vào đề nghị của các Sở, Ty Giáo dục. Việc thành lập (hay giải thể) trường Phổ thông lao độngTrung ương do quyết định của Bộ Giáo dục.
Chương II — HỌC VIÊN
  Điều 7. Học viên của trường Phổ thông lao động là cán bộ (chủ yếu là cán bộ lãnh đạo, quản lý) đang công tác ở các cơ quan chính, dân, đảng các cấp, các cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa (thuộc hai khu vực kinh tế Nhà nước và tập thể), anh hùng, chiến sĩ thi đua liên tục từ 2 năm trở lên, có sức khoẻ bảo đảm theo học, ở độ tuổi chưa quá 50, do các cơ quan, đơn vị trên chính thức cử đi học theo chỉ tiêu, kế hoạch tuyển sinh từng khoá, từng năm.
  Điều 8. Việc tuyển sinh vào các trường Phổ thông lao động do Ban Tổ chức của Đảng và chính quyền phụ trách, có phối hợp chặt chẽ với ngành Giáo dục theo chỉ tiêu quy định hằng năm trong kế hoạch phát triển giáo dục.
  Điều 9. Học viên các trường Phổ thông lao động có những nhiệm vụ sau đây:
  Điều 10. Học viên các trường Phổ thông lao động có những quyền lợi sau đây:
Chương III — GIÁO VIÊN
  Điều 11. Giáo viên các trường Phổ thông lao động là những giáo viên chuyên nghiệp do ngành giáo dục đào tạo, bồi dưỡng, quản lý và sử dụng, có trình độ chính trị, văn hoá và nghiệp vụ sư phạm theo đúng quy định để dạy được toàn cấp học đang phụ trách, có kinh nghiệm vận dụng những nguyên tắc, phương pháp giảng dạy nói chung vào việc giảng dạy văn hoá cho người lớn tuổi.
  Điều 12. Nhiệm vụ trung tâm của giáo viên giảng dạy bộ môn ở các trường Phổ thông lao động là lên lớp, giảng dạy, hướng dẫn thí nghiệm, thực hành theo đúng nội dung chế độ công tác và số giờ quy định do hiệu trưởng phân công, hoàn thành tốt kế hoạch giảng dạy bộ môn đúng thời hạn, đúng yêu cầu do Bộ giáo dục quy định và chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng về kết quả học tập của học viên.
  Điều 13. Đầu khoá học, ở mỗi lớp, hiệu trưởng chỉ định một giáo viên làm chủ nhiệm lớp.
  Điều 14. Để thực hiện tốt những nhiệm vụ ghi trong Điều 12 và Điều 13, mỗi một giáo viên trường Phổ thông lao động phải:
  Điều 15. Giáo viên các trường Phổ thông lao động có quyền:
Chương IV — TỔ CHỨC QUẢN LÝ, LÃNH ĐẠO
  Điều 16. Trường Phổ thông lao động huyện trực thuộc Phòng giáo dục huyện, trường Phổ thông lao động tỉnh trực thuộc Sở, Ty giáo dục, dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và chính quyền cùng cấp ở địa phương. Trường Phổ thông lao động Trung ương trực thuộc Bộ Giáo dục, do Vụ Bổ túc văn hoá chủ quản.
  Điều 17. Trong các trường Phổ thông lao động ngoài hiệu trưởng và hiệu phó giúp việc hiệu trưởng còn có những tổ chức sau đây giúp hiệu trưởng lãnh đạo, quản lý nhà trường:
  Điều 18. Hiệu trưởng trường phổ thông lao động có quyền hạn và trách nhiệm quản lý mọi mặt hoạt động của nhà trường theo đúng đường lối, quan điểm giáo dục bổ túc văn hoá của Đảng và mục đích, nhiệm vụ của nhà trường, bảo đảm hoàn thành đúng thời hạn và có chất lượng chương trình giảng dạy của mỗi khoá học.
  Điều 19. Hiệu trưởng trường Phổ thông lao động có những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể sau đây:
  Điều 20. Hiệu phó có chức trách giúp hiệu trưởng thực hiện một phần những nhiệm vụ, quyền hạn của hiệu trưởng ghi trong Điều 19 do hiệu trưởng uỷ quyền và chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng về những công việc được giao.
  Điều 21. Hội đồng giáo viên.
  Điều 22. Tổ giáo viên bộ môn:
  Điều 23. Tổ giáo viên chủ nhiệm.
  Điều 24. Phòng (hoặc bộ phận) giáo vụ:
  Điều 25. Mỗi lớp có một ban cán sự lớp gồm một lớp trưởng và một hoặc hai lớp phó. Ban cán sự lớp giúp giáo viên chủ nhiệm lãnh đạo mọi hoạt động của lớp, chủ yếu là mặt học tập, tập hợp ý kiến học viên nhận xét về sự giảng dạy của giáo viên, về các mặt quản lý của nhà trường và được thay mặt học viên tham gia các ban kiểm tra công tác đời sống của nhà trường.
  Điều 26. Số lượng học viên ở mỗi lớp như sau:
  Điều 27. Các trường Phổ thông lao động phải gửi báo cáo thường kỳ vào đầu và cuối khoá học cho cơ quan giáo dục cấp trên trực tiếp.
  Điều 28. Sinh hoạt, hội họp trong các trường Phổ thông lao động do hiệu trưởng quy định, điều hoà và công bố cho giáo viên, học viên biết trước trong từng tuần, từng tháng (công bố từ cuối tuần trước hoặc cuối tháng trước).
Chương V — TIÊU CHUẨN, CHẾ ĐỘ.
  Điều 29. Với đối tượng chiêu sinh và vị trí quan trọng của trường, các trường Phổ thông lao động phải được ngành giáo dục và các ngành, ban có trách nhiệm liên quan giải quyết tốt nhất những việc sau:
  Điều 30. Hiệu trưởng, hiệu phó các trường Phổ thông lao động, ngoài nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý, phải thực hiện đúng chế độ lên lớp giảng dạy đã quy định trong Thông tư số 46-TT/GD ngày 24-10-1962 của Bộ Giáo dục. Chế độ lương và phụ cấp chức vụ của hiệu trưởng, hiệu phó các trường Phổ thông lao động phải theo đúng như quy định trong Quyết định số 273-QĐ ngày 11-7-1960 của Bộ Giáo dục.
  Điều 31. Giáo viên các trường Phổ thông lao động phải thực hiện đúng chế độ lên lớp quy định cho giáo viên các trường bổ túc văn hoá tập trung ghi trong thông tư số 46-TT/GD ngày 24-10-1962 của Bộ Giáo dục; giáo viên cấp I mỗi tuần lên lớp 17 tiết; giáo viên cấp II mỗi tuần lên lớp 16 tiết; giáo viên cấp III mỗi tuần lên lớp 14 tiết. Giáo viên giảng dạy quá số tiết tối đa hàng tuần như quy định trên thì được hưởng phụ cấp dạy thêm giờ như quy định hiện hành.
  Điều 32. Học viên là cán bộ trong biên chế Nhà nước được hưởng 100% lương trong suốt thời gian đi học (theo Thông tư số 02-TC/TW này 8-01-1965 của Ban Tổ chức Trung ương). Học viên là cán bộ xã, hợp tác xã đi học được hưởng theo chế độ hiện hành đã quy định trong Thông tư số 33-LB ngày 29-6-1962 của Liên Bộ Tài chính - Y tế - Nội vụ.
Chương VI — CÔNG TÁC HÀNH CHÍNH QUẢN TRỊ
  Điều 33. Công tác văn thư trong trường Phổ thông lao động phải nhằm phục vụ thiết thực cho công tác giảng dạy, học tập, quản lý giáo viên, học viên. Nhiệm vụ chủ yếu của công tác văn thư là theo dõi, thu nhận, bảo quản, lưu trữ, cấp phát hồ sơ tài liệu về học viên (trừ lý lịch do bộ phận tổ chức quản lý), hồ sơ tài liệu về chuyên môn, hồ sơ tài liệu về hành chính, quản trị.
  Điều 34. Hồ sơ học viên gồm: học bạ, bằng tốt nghiệp (hoặc giấy chứng nhận tốt nghiệp) cấp học dưới, bản sơ yếu lý lịch do học viên tự khai, quyết định và giấy giới thiệu đi học của cơ quan có trách nhiệm.
  Điều 35. Hồ sơ tài liệu về chuyên môn gồm:
  Điều 36. Hồ sơ, tài liệu về hành chính, quản trị gồm có:
  Điều 38. Ở những trường Phổ thông lao động có nội trú thì bộ phận hành chính, quản trị phải làm tốt nhiệm vụ tổ chức đời sống tập thể cho giáo viên, cán bộ, học viên. Trong việc quản lý ăn uống, phải hết sức liêm khiết, chí công vô tư, sổ sách phải minh bạch và đầy đủ, phải thực hiện tài chính công khai và có đại biểu giáo viên, cán bộ, học viên tham gia những đợt kiểm tra thường lệ.
Chương VII — ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
  Điều 39. Quy chế tạm thời này áp dụng cho tất cả các trường Phổ thông lao động (huyện, tỉnh,Trung ương) kể từ năm học 1975-1976.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.