Văn bản · Hội đồng Bộ trưởng
Văn bản 48/HĐBT
Ban hành Điều lệ đăng ký nghĩa vụ quân sự
- Tình trạng
- Hết hiệu lực toàn bộ
- Ngày ban hành
- 16/05/1983
- Ngày có hiệu lực
- 24/11/2001
- Hết hiệu lực
- 24/11/2001
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)
- 83/2001/NĐ-CP — Về đăng ký nghĩa vụ quân sự. (09/11/2001)
Bố cục (47 điều)
Điều 1. - Nay ban hành điều lệ đăng ký nghĩa vụ quân sự kèm theo nghị định này. Điều 2. - Bãi bỏ những quy định trước đây về việc đăng ký nghĩa vụ quân sự trái với điều lệ này. Điều 3. - Các Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, thủ trưởng cơ quan khác thuộc Hội đồng bộ trưởng và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương có trách nhiệm thi hành nghị định này. Điều 1. - Công dân nam giới đủ 17 tuổi trong năm, công dân trong diện làm nghĩa vụ quân sự (không kể cán bộ, chiến sỹ và công nhân, viên chức đang phục vụ trong lực lượng công an nhân dân) đã hoặc chưa qua phục vụ tại ngũ trong quân đội nhân dân Việt Nam đều phải đăng ký nghĩa vụ quân sự theo những quy định trong điều lệ này. Điều 2. - Khi đăng ký nghĩa vụ quân sự, những người nói trong điều 1 của điều lệ này được sắp xếp như sau: Điều 3. - Đăng ký vào diện sẵn sàng nhập ngũ những người sau đây: Điều 4. - Đăng ký vào diện quân nhân dự bị hạng 1 những người sau đây: Điều 5. - Đăng ký vào diện quân nhân dự bị hạng 2 những người sau đây : Điều 6. - Căn cứ vào lứa tuổi, quân nhân dự bị ở mỗi hạng được chia thành 3 nhóm: Điều 7. - Điều 8. - Những người sau đây không được đăng ký nghĩa vụ quân sự: Điều 9. - Những người sau đây được miễn đăng ký nghĩa vụ quân sự: Điều 10. - Người sẵn sàng nhập ngũ và quân nhân dự bị hạng 1, hạng 2 (sau đây gọi tắt là quân nhân dự bị), trong thời gian đi đăng ký nghĩa vụ quân sự hoặc kiểm tra sức khoẻ, được hưởng các chế độ như sau: Điều 11. - Các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế tập thể và các tổ chức xã hội khác, tuỳ theo chức năng và quyền hạn của mình, có trách nhiệm động viên, giáo dục, đôn đốc và tạo điều kiện cho các cơ sở, các công nhân, viên chức, các thành viên thuộc quyền chấp hành đầy dủ những quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự và tổ chức thực hiện những phần có liên quan nói trong điều lệ này. Điều 12. - Trong vòng 10 ngày đầu tháng 1 hàng năm, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là xã) phải báo cáo danh sách công dân nam giới đủ 17 tuổi trong năm của xã cho ban chỉ huy quân sự huyện theo quy định sau đây: Điều 13. - Trong vòng 10 ngày đầu tháng 1 hàng năm, hiệu trưởng các trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, thủ trưởng các cơ quan, xí nghiệp và đơn vị cơ sở khác phải báo cáo danh sách công dân nam giới đủ 17 tuổi trong năm cho ban chỉ huy quân sự huyện nơi công dân đó đang cư trú và cho ban chỉ huy quân sự huyện nơi cơ sở đóng. Điều 14. - Tháng 4 hàng năm, theo lệnh gọi của ban chỉ huy trưởng quân sự huyện, công dân nam giới đủ 17 tuổi trong năm phải đến ban chỉ huy quân sự huyện nơi đang cư trú để đăng ký lần đầu vào phiếu đăng ký nghĩa vụ quân sự. Điều 15. - Sau khi đăng ký nghĩa vụ quân sự ở ban chỉ huy quân sự huyện, người sẵn sàng nhập ngũ được cấp giấy chứng nhận đăng ký nghĩa vụ quân sự. Điều 16. - Điều 17. - Khi cho quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc quyền xuất ngũ, người chỉ huy đơn vị từ cấp trung đoàn (và tương đương) trở lên có trách nhiệm: Điều 18. - Điều 19. - Theo lệnh gọi của chỉ huy trưởng quân sự huyện, công dân nam giới nói ở điểm 3, phụ nữ chưa qua phục vụ tại ngũ nói ở điểm 4, điều 5 của Điều lệ này phải đến ban chỉ huy quân sự huyện nơi đang cư trú để đăng ký vào ngạch dự. Khi đến ban chỉ huy quân sự: Điều 20. - Việc trao thẻ quân nhân cho quân nhân dự bị chưa qua phục vụ tại ngũ được tiến hành vào lần tập trung huấn luyện đầu tiên của những quân nhân đó. Điều 21. - Người sẵn sàng nhập ngũ và quân nhân dự bị, khi có thay đổi về địa chỉ nơi ở trong phạm vi xã đang cư trú, về địa chỉ nơi làm việc hoặc học tập, về chức vụ công tác, về cấp bậc lương, về trình độ văn hoá, về phân loại sức khoẻ, về hoàn cảnh gia đình thì trong thời hạn 10 ngày, phải đến ban chỉ huy quân sự xã nơi đang cư trú xuất trình giấy tờ về sự thay đổi nói trên để đang ký bổ sung. Điều 22. - Ban chỉ huy quân sự xã, mỗi tháng một lần, phải báo cáo sự thay đổi nói ở điều 21 của Điều lệ này với ban chỉ huy quân sự huyện. Điều 23. - Điều 24. - Điều 25. - Người sẵn sàng nhạp ngũ và quân nhân dự bị khi chuyển nơi cư trú đến huyện mới để đăng ký chuyển đến: Điều 26. - Người sẵn sàng nhập ngũ, khi được gọi nhập ngũ trong thời bình hoặc thời chiến, phải mang theo giấy chứng nhận đăng ký nghĩa vụ quân sự và lệnh gọi nhập ngũ; quân nhân dự bị khi được gọi tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu, hoặc gọi nhập ngũ trong thời chiến, phải mang theo lệnh động viên (phát trước từ thời bình), thẻ quân nhân và lệnh gọi. Khi đến địa điểm quy định, người sẵn sàng nhập ngũ nộp giấy chứng nhận đăng ký nghĩa vụ quân sự và lệnh gọi cho ban chỉ huy quân sự huyện, quân nhân dự bị nộp lệnh động viên và thẻ quân nhân cho đơn vị, nộp lệnh gọi cho ban chỉ huy quân sự huyện. Điều 27. - Điều 28. - Điều 29. - Việc cho quân nhân dự bị không còn đủ sức khoẻ phục vụ trong ngạch dự bị giải ngạch do ban chỉ huy quân sự huyện quyết định. Điều 30. Hàng năm dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân huyện, ban chỉ huy quân sự huyện tổ chức trao quyết định giải ngạch cho quân nhân dự bị đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và thu lại thẻ quân nhân. Điều 31. - Điều 32. - Khi đã nhận chức vụ hoặc nghề nghiệp khác ngoài quy định của bảng danh mục nói ở điều 31 của Điều lệ này thì không còn thuộc diện đăng ký riêng và trong thời hạn 10 ngày, phải đến ban chỉ huy quân sự huyện nơi đang cư trú xuất trình quyết định bổ nhiệm chức vụ mới và giấy giới thiệu của cơ sở để chuyển sang đăng ký nghĩa vụ quân sự chung (gọi tắt là đăng ký chung). Điều 33. - Ngững người đăng ký riêng phải chấp hành các quy tắc đăng ký nói ở các điều 7, 18, 19, 21, 23, 24, 25, 26, 27 và 28 của Điều lệ này. Điều 34. - Bộ trưởng Bộ quốc phòng chỉ đạo việc đăng ký nghĩa vụ quân sự trong cả nước; quy định chế độ báo cáo và chế độ kiểm tra về việc đăng ký nghĩa vụ quân sự cho cơ quan quân sự các cấp và đơn vị thuộc quyền; quy định chế độ sinh hoạt đối với người sẵn sàng nhập nhũ và quân nhân dự bị. Điều 35. - Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo cơ quan quân sự cùng cấp thực hiện việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, quản lý người sẵn sàng nhập ngũ và quân nhân dự bị ở địa phương mình theo quy định của Điều lệ này và các quy định cụ thể của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Điều 36. - Tư lệnh quân khu (và cấp tương đương) chỉ huy trưởng quân sự tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan quân sự thuộc quyền thực hiện việc đăng ký nghĩa vụ quân sự trong địa bàn mình phụ trách. Điều 37. - Thủ trưởng cơ quan sí nghiệp và đơn vị cơ sở khác có trách nhiệm thực hiện điều 11 của Điều lệ này và phải báo cáo danh sách phụ nữ có nghề chuyên môn kỹ thuật cần cho quân đội mà chưa đăng ký vào ngạch dự bị cho ban chỉ huy quân sự huyện nơi người đó đang cư trú, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày họ được điều động về cơ sở. Điều 38. - Cơ quan công an có trách nhiệm: Điều 39. - Cơ quan ngoại giao có trách nhiệm: Điều 40. - Cơ quan y tế huyện có trách nhiệm tổ chức khám và kiểm tra sức khoẻ cho người sẵn sàng nhập ngũ và quân nhân dự bị theo kế hoạch của cơ quan quân sự địa phương cùng cấp. Điều 41. - Toà án nhân dân gửi trích lục án của người sẵn sàng nhập ngũ hoặc quân nhân dự bị bị tước quyền phục vụ trong các lực lượng vũ trang nhân dân cho ban chỉ huy quân sự huyện nơi họ đang cư trú, trong thời gian 10 ngày, kể từ khi bản án bắt đầu có hiệu lực pháp luật. Điều 42. - Chỉ huy trưởng quân sự huyện: Điều 43. - Điều lệ này thay thể Điều lệ về đăng ký thống kê và quản lý quân nhân dự bị ban hành kèm theo nghị định số 217-CP ngày 26-12-1961 của Hội đồng Chính phủ. Điều 44. - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính, Bộ Y tế và thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng trong phạm vi chức năng quản lý của mình, hướng dẫn chi tiết việc thi hành Điều lệ này.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.