Quyết định · UBND

Quyết định 52/2007/QĐ-UBND

Về việc Ban hành Quy định về quản lý và điều hành ngân sách địa phương

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
29/05/2007
Ngày có hiệu lực
08/06/2007
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bị sửa đổi, bổ sung bởi (1)

Bị thay thế / bãi bỏ bởi (2)

Hướng dẫn thi hành (4)

Bố cục (37 điều)

Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này “Quy định về quản lý và điều hành  ngân sách địa phương” áp dụng trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày, kể từ ngày ký và thay thế Quyết định số 84/2004/QĐ-UB ngày 08/6/2004 của UBND tỉnh Bắc Giang.
Điều 3. Thủ trưởng các cơ quan: Văn phòng UBND tỉnh, cơ quan trực thuộc UBND tỉnh, các Ban của Đảng, các đơn vị có liên quan và UBND các huyện, thành phố căn cứ Quyết định thi hành./.
Chương I — NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
  Điều 1. Ngân sách địa phương tỉnh Bắc Giang, bao gồm 3 cấp: ngân sách cấp tỉnh, ngân sách huyện, thành phố (gọi chung là ngân sách cấp huyện) và ngân sách xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã).
  Điều 2. Phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp chính quyền địa phương thực hiện theo Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐND­ ngày 20/7/2006 của HĐND tỉnh về việc Quy định phân cấp ngân sách các cấp chính quyền địa phương tỉnh Bắc Giang và Nghị quyết số 04/2006/NQ-HĐND­ ngày 20/7/2006 về việc Ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước năm 2007 của các cấp chính quyền địa phương tỉnh Bắc Giang.
  Điều 3. Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm; trường hợp cần ban hành chính sách, chế độ mới làm tăng chi ngân sách sau khi dự toán đã được cấp có thẩm quyền quyết định thì phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách từng cấp.
  Điều 4. Ngân sách địa phương hàng năm được cân đối với tổng số chi không vượt quá tổng số thu; trường hợp cần huy động vốn để đầu tư xây dựng công trình kết cấu hạ tầng thuộc phạm vi ngân sách cấp tỉnh bảo đảm thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 Luật NSNN.
  Điều 5. Dự toán chi ngân sách địa phương được bố trí khoản dự phòng là 3% trên tổng số chi của ngân sách mỗi cấp để dự phòng chi phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, hoả hoạn và các nhiệm vụ cấp bách phát sinh ngoài dự toán trong năm ngân sách. Việc sử dụng dự phòng ngân sách ở cấp nào do ngân sách cấp đó quyết định.
  Điều 6. HĐND cấp tỉnh quyết định dự toán ngân sách địa phương, phân bổ ngân sách cấp tỉnh năm sau trước ngày 10/12 năm trước; HĐND cấp dưới quyết định dự toán ngân sách địa phương, phân bổ ngân sách năm sau của cấp mình chậm nhất là 10 ngày, kể từ ngày HĐND cấp trên trực tiếp quyết định dự toán và phân bổ ngân sách; phê duyệt quyết toán ngân sách địa phương hàng năm và những vấn đề khác liên quan đến việc chấp hành ngân sách địa phương.
  Điều 7. Trường hợp có biến động lớn về ngân sách so với dự toán đã phân bổ cần phải điều chỉnh tổng thể, UBND lập dự toán điều chỉnh ngân sách địa phương trình HĐND quyết định.
Chương II — LẬP DỰ TOÁN NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG
  Điều 8. Hướng dẫn lập dự toán ngân sách nhà nước và thông báo số kiểm tra hàng năm
  Điều 9. Nhiệm vụ, quyền hạn về lập dự toán ngân sách nhà nước
  Điều 10. Thời gian lập và gửi báo cáo
Chương III — CHẤP HÀNH NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
  Điều 11. Sau khi được UBND các cấp giao dự toán ngân sách, các cơ quan nhà nước các cấp, các đơn vị dự toán cấp 1 tiến hành phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc theo nguyên tắc:
  Điều 12. Các cơ quan nhà nước, các đơn vị dự toán ngân sách phải chấp hành nghiêm chỉnh Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn của Trung ương và địa phương, đề ra những biện pháp cần thiết đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ thu, chi ngân sách được giao, thực hiện tăng thu, tiết kiệm chi, chi hợp lý, có hiệu quả.
  Điều 13. Cơ quan Thuế chủ trì phối hợp với Sở Tài chính, các ngành, UBND các huyện, thành phố xây dựng đề án tăng thu, các biện pháp chống thất thu, kịp thời hướng dẫn và tổ chức thực hiện tốt các chính sách, pháp luật về lĩnh vực thuế, xây dựng cơ chế, nuôi dưỡng nguồn thu, nghiêm cấm để ngoài ngân sách trái với quy định.
  Điều 14. Việc chi trả, thanh toán các khoản chi của ngân sách nhà nước áp dụng theo các hình thức quy định tại các điểm 6,7,8,9,10,11,12 và 13 Phần IV Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60/2003/NĐ- CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước.
  Điều 15. Trong quá trình chấp hành ngân sách nhà nước, nếu có thay đổi về nguồn thu, nhiệm vụ chi thì các cấp ngân sách thực hiện như sau:
  Điều 16. Các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ nộp đầy đủ, đúng hạn các khoản thuế, phí, lệ phí, các khoản thu khác vào NSNN theo quy định của pháp luật. Chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về kê khai, báo cáo các khoản thu, nộp và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các chứng từ thu của mình.
  Điều 17. Trong quá trình thực hiện dự toán, nếu phát sinh nhu cầu chi mới thì đơn vị tự sắp xếp trong phạm vi tổng mức dự toán ngân sách năm được giao.
  Điều 18. Sử dụng dự phòng ngân sách địa phương
  Điều 19. Việc trích lập quỹ dự trữ tài chính cấp tỉnh theo quy định tại điểm 2, Điều 58 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành Luật NSNN.
  Điều 20. Quản lý quỹ ngân sách nhà nước là trách nhiệm của cơ quan Tài chính và Kho bạc nhà nước các cấp, thực hiện theo quy định của Luật NSNN và Bộ Tài chính.
  Điều 21. Việc cho vay giữa ngân sách cấp tỉnh và ngân sách cấp huyện được thực hiện như sau:
Chương IV — KẾ TOÁN VÀ QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
  Điều 22. Các tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ thu, nộp NSNN, sử dụng vốn, kinh phí NSNN và các khoản thu, chi tài chính phải tổ chức hạch toán kế toán, lập báo cáo kế toán và quyết toán các khoản thu, chi NSNN và các khoản thu, chi tài chính theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê theo chế độ kế toán và mục lục NSNN.
  Điều 23. Kho bạc Nhà nước các cấp có trách nhiệm hạch toán kế toán thu, chi NSNN; định kỳ hàng tháng, quý, năm (hoặc đột xuất) báo cáo việc thực hiện thu, chi NSNN theo dự toán đã giao và theo mục lục NSNN cho cơ quan tài chính cùng cấp.
  Điều 24. Các khoản chi ngân sách thuộc dự toán năm trước nếu chưa thực hiện hoặc chưa thực hiện hết không được chuyển sang năm sau chi tiếp; Trường hợp đặc biệt, đơn vị sử dụng ngân sách báo cáo cơ quan Tài chính để tổng hợp trình Chủ tịch UBND cùng cấp quyết định cho chi tiếp thì hạch toán và quyết toán như sau:
  Điều 25. Thời gian chỉnh lý quyết toán như sau:
  Điều 26. Thời gian gửi báo cáo kế toán quý, báo cáo quyết toán năm quy định như sau:
  Điều 27. Trình tự xét duyệt và thẩm định quyết toán năm của các đơn vị được quy định như sau:
  Điều 28. Trình tự thẩm định quyết toán thu, chi ngân sách hàng năm của các cấp ngân sách được quy định như sau:
  Điều 29. Việc thẩm định báo cáo quyết toán năm thực hiện theo quy định tại Điều 74 của Nghị định 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ.
  Điều 30. Quyết toán năm của các cấp ngân sách, nếu có kết dư thì xử lý như sau:
Chương V — CÔNG TÁC KIỂM TRA, THANH TRA VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
  Điều 31. Công tác kiểm tra giám sát việc chấp hành các chế độ chính sách về thu, chi phải được tiến hành thường xuyên ở tất cả các cấp, các ngành, các đơn vị hưởng thụ ngân sách.
  Điều 32. Thanh tra ngành tài chính ( bao gồm Thanh tra tài chính, Kho bạc Nhà nước, Thuế) có nhiệm vụ tiến hành kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất việc chấp hành thu, chi và quản lý ngân sách, quản lý tài sản nhà nước của các tổ chức và cá nhân theo quy định của pháp luật.
  Điều 33. Đơn vị, tổ chức và cá nhân vi phạm các quy định pháp luật về Luật Ngân sách nhà nước và Quy định này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật hiện hành.
  Điều 34. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện những hành vi vi phạm pháp luật về ngân sách. Việc khiếu nại, tố cáo, khởi kiện và việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, khởi kiện được thực hiện theo quy định của pháp luật.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.