Văn bản · Chính phủ

Văn bản 58-CP

Về việc ban hành Quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
30/08/1993
Ngày có hiệu lực
30/08/1993
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)

Được hướng dẫn bởi (25)

Hướng dẫn thi hành (1)

Bố cục (27 điều)

Điều 1. - Ban hành kèm theo Nghị định này bản Quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài.
Điều 2. - Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày ký.
Điều 3. - Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
Điều 1. - Trong Quy chế này, các cụm từ dưới đây được hiểu như sau:
Điều 2. - Vay nước ngoài theo Quy chế này bao gồm:
Điều 3. - Chính phủ quản lý vay và trả nợ nước ngoài theo kế hoạch hàng năm và 5 năm theo phân công cho các cơ quan sau đây:
Điều 4. - Thành lập Hội đồng tư vấn về vay và trả nợ nước ngoài (sau đây gọi tắt là Hội dồng tư vấn nợ) do Bộ trưởng Bộ Tài chính làm Chủ tịch và các thành viên là lãnh đạo các cơ quan Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Thương mại, Uỷ ban Nhà nước về hợp tác và đầu tư, Văn phòng Chính phủ và một số chuyên gia am hiểu về lĩnh vực vay và trả nợ nước ngoài.
Điều 5. - Chính phủ thống nhất quản lý việc vay và trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp theo các nguyên tắc sau đây:
Điều 6. - Căn cứ vào kế hoạch tổng hạn mức vay và trả nợ nước ngoài của Chính phủ đã được phê duyệt, Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền cho Bộ trưởng Bộ Tài chính thay mặt Chính phủ ký các Hiệp định vay nước ngoài và thực hiện việc trả nợ theo hạn mức được duyệt.
Điều 7. - Các dự án đầu tư xây dựng cơ bản được thực hiện bằng nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ phải được Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan xem xét và thẩm định theo các quy định hiện hành về chế độ thẩm định dự án Nhà nước trước khi ký Hiệp định.
Điều 8. - Toàn bộ vốn vay và trả nợ nước ngoài của Chính phủ đều phải được cân đối và ghi vào ngân sách Nhà nước.
Điều 9. - Mỗi lần rút vốn và trả nợ các đơn vị được cấp phát hoặc được vay lại từ các khoản vay của Chính phủ phải báo cáo với Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước không chậm quá 30 ngày sau khi các nghiệp vụ đó phát sinh.
Điều 10. - Bộ Tài chính chịu trách nhiệm bố trí vốn ngân sách Nhà nước hàng năm theo kế hoạch được duyệt để trả nợ cho nước ngoài khi đến hạn (bao gồm cả việc trả nợ bằng hàng hoá và trả nợ bằng tiền).
Điều 11. - Việc thực hiện các khoản vay nước ngoài theo phương thức tự vay, tự trả của các doanh nghiệp quốc doanh cho các dự án đầu tư xây dựng cơ bản phải bảo đảm đủ các điều kiện sau đây:
Điều 12. - Việc thực hiện các khoản vay nước ngoài theo phương thức tự vay, tự trả của doanh nghiệp quốc doanh cho hoạt động sản xuất kinh doanh phải bảo đảm đủ các điều kiện sau:
Điều 13. - Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh được vay nước ngoài theo phương thức tự vay, tự trả.
Điều 14. - Thủ trưởng các cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên trực tiếp của các doanh nghiệp Nhà nước chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về phương án sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trực thuộc mà mình xét đề nghị cho phép vay vốn nước ngoài. Hàng năm, cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên trực tiếp của các doanh nghiệp Nhà nước chịu trách nhiệm tổng hợp và báo cáo với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Tài chính về tình hình vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp trực thuộc.
Điều 15. - Việc vay vốn nước ngoài của các doanh nghiệp phải chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước và của các Ngân hàng bảo lãnh. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ký chính thức, các doanh nghiệp vay vốn nước ngoài phải cung cấp bản sao các văn bản đã ký kết với Bên nước ngoài về vay vốn cho Ngân hàng Nhà nước và cho các Ngân hàng bảo lãnh.
Điều 16. - Việc vay và trả nợ nước ngoài của tất cả các doanh nghiệp đều phải thực hiện qua hệ thống Ngân hàng.
Điều 17. - Trong trường hợp Bên cho vay nước ngoài yêu cầu bảo lãnh:
Điều 18. - Cơ quan bảo lãnh là người quyết định cuối cùng về phương án xin vay của doanh nghiệp kể cả trường hợp luận chứng kinh tế kỹ thuật đã được các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt.
Điều 19. - Trong trường hợp doanh nghiệp được bảo lãnh không có khả năng trả nợ mà nợ đã đáo hạn, các cơ quan bảo lãnh chịu trách nhiệm trả nợ thay doanh nghiệp; đồng thời, có quyền phát mại tại sản của doanh nghiệp đó để bù đắp các khoản đã trả nợ thay theo quy định của pháp luật.
Điều 20. - Ngân hàng Nhà nước chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính soạn thảo trình Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quy chế về bảo lãnh vay nước ngoài đối với các khoản vay của Chính phủ.
Điều 21. - Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước tiến hành công tác kiểm tra, thanh tra định kỳ tình hình vay, trả nợ nước ngoài của tất cả các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh do Ngân hàng bảo lãnh. Đơn vị được kiểm tra, thanh tra có nhiệm vụ cung cấp đầy đủ tình hình, số liệu và chứng từ liên quan đến vay và trả nợ nước ngoài cho việc kiểm tra, thanh tra nói trên.
Điều 22. - Trong trường hợp doanh nghiệp hoặc cơ quan bảo lãnh vi phạm bản Quy chế này, tuỳ theo mức độ vi phạm, người đứng đầu doanh nghiệp hoặc cơ quan bảo lãnh phải chịu trách nhiệm vật chất hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Điều 23. - Trong trường hợp do việc xét duyệt phương án không đúng của các cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên trực tiếp của doanh nghiệp Nhà nước đã gây ra thiệt hại, về kinh tế, người ký duyệt phương án, tuỳ theo mức độ thiệt hại phải bị xử lý kỷ luật hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Điều 24. - Các doanh nghiệp sử dụng vốn vay nước ngoài hàng năm phải báo cáo về việc sử dụng vốn vay và trả nợ với Bộ Tài chính (nếu sử dụng vốn vay của Chính phủ) hoặc Ngân hàng Nhà nước (nếu sử dụng vốn vay theo phương thức tự vay, tự trả). Hàng năm, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước làm báo cáo tình hình sử dụng vốn vay do mình quản lý trình Thủ tướng Chính phủ./.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.