Quyết định · KT

Quyết định 6093/QĐ-UB-KT

Về việc ban hành quy định tạm thời về kiểm soát ô nhiễm trong giao thông đường thủy thành phố Hồ Chí Minh

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
26/12/1996
Ngày có hiệu lực
26/12/1996
Hết hiệu lực
23/04/2015
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Hướng dẫn thi hành (1)

Bố cục (40 điều)

Điều 1. - Nay ban hành quy định tạm thời về việc kiểm soát ô nhiễm trong giao thông đường thủy thành phố Hồ Chí Minh.
Điều 2. - Giám đốc Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm, phối hợp với các sở, ngành có liên quan tổ chức phổ biến, hướng dẫn thực hiện quy định này.
Điều 3. - Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố, Trưởng Ban Tổ chức chánh quyền thành phố, Giám đốc Sở Giao thông công chánh, Giám đốc Công an thành phố, Giám đốc các Cảng tại thành phố Hồ Chí Minh, Thủ trưởng các Sở, Ban, Ngành và Chủ tịch Ủy ban nhân dân các Quận Huyện có trách nhiệm thi hành quyết định này.-
Điều 1. - Bản quy định tạm thời về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong giao thông đường thủy trong khu vực thành phố Hồ Chí Minh được căn cứ vào Luật bảo vệ môi trường, điều 23 của Bộ Luật Hàng hải Việt Nam, Công ước quốc tế về chống ô nhiễm môi trường biển Marpol 73/78, Nghị định 26/CP về xử phạt hành chánh môi trường và các văn bản pháp luật khác liên quan đến bảo vệ và chống ô nhiễm môi trường do Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường, Bộ Giao thông vận tải, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và Cục Hàng hải đã ban hành.
Điều 2. - Trong quy định này sử dụng các định nghĩa sau :
Điều 3. -
Điều 4. - Bên cạnh việc tuân thủ quy định này, tất cả các loại tàu biển của Việt Nam và nước ngoài, gồm tàu dầu có dung tích 150 tấn trở lên và tàu không phải tàu dầu có tổng dung tích trên 400 tấn, còn phải chịu sự kiểm tra về việc phòng chống ô nhiễm vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh theo Công ước Marpol 73/78.
Điều 5. - Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh (cơ quan Thường trực Ủy ban Môi trường thành phố) là cơ quan giúp Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo, kiểm tra và giám sát việc thực hiện bản Quy định này của tất cả các đối tượng được nêu trong Điều 3.
Điều 6. - Tất cả các loại tàu dầu có dung tích 150 tấn trở lên và các tàu biển không phải tàu dầu có tổng dung tích trên 400 tấn phải có trang thiết bị phòng chống ô nhiễm môi trường do hoạt động giao thông vận tải đường thủy gây ra như Công ước Marpol 73/78 quy định.
Điều 7. - Các tàu dầu có dung tích 150 tấn trở lên và tàu biển không phải tàu dầu có tổng dung tích trên 400 tấn của Việt Nam và nước ngoài không có giấy chứng nhận quốc tế về chống ô nhiễm môi trường biển (IOPP) theo Công ước Marpol 73/78 thì chủ tàu phải lắp đặt đầy đủ các thiết bị theo quy định của Công ước này và phải được cơ quan đăng kiểm Việt Nam hoặc tương đương kiểm tra cấp giấy chứng nhận IOPP tạm thời trước khi vào vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh.
Điều 8. - Tất cả các đối tượng được quy định trong điều 3 mục a phải trang bị trong khu vực hoạt động của mình các thiết bị dưới đây :
Điều 9. - Tất cả các đơn vị gồm các cảng dầu, kho dầu, nhà máy lọc dầu, trạm bán xăng dầu trên sông kinh, cảng ga, ụ nổi, xưởng sửa chữa tàu, đóng tàu phải trang bị các thiết bị phòng chống sự cố dầu tràn để chống ô nhiễm môi trường do dầu tràn ra từ nguồn trên bờ hoặc từ các tàu dầu hoặc các tàu không phải tàu dầu hoạt động trong phạm vi quản lý của đơn vị.
Điều 10. - Tất cả các phương tiện thủy khi hoạt động trong vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh phải có hầm, khoang, thùng chứa đủ sức chứa dầu thải, cặn dầu, các chất thải độc hại khác và rác do hoạt động của mình thải ra.
Điều 11. - Tất cả các phương tiện thủy khi hoạt động trong vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh có nhu cầu thải dầu, cặn dầu ra ngoài đều phải thông qua các phương tiện tiếp nhận từ trên bờ. Các cơ sở tiếp nhận trên bờ phải có đủ điều kiện trang bị để tiếp nhận và phải có giấy phép của Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh cấp.
Điều 12. - Cấm tất cả các đối tượng được nêu trong Điều 3 thải dầu, cặn dầu, nước lẫn dầu vào vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh.
Điều 13. - Tất cả các phương tiện thủy phải chứa dầu thải hoặc hỗn hợp dầu nước trong tàu với các thiết bị tồn trữ chất thải như đã nói ở Điều 10.
Điều 14. - Cấm chứa nước dằn tàu trong các khoang, hầm dùng chở dầu hàng hóa hoặc trong các khoang, hầm chứa nhiên liệu của tàu.
Điều 15. -
Điều 16. - Tất cả các phương tiện thủy khi hoạt động trong vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh có nhu cầu thải các chất lỏng hoặc rắn độc hại không phải dầu ra ngoài đều phải thông qua các phương tiện tiếp nhận từ trên bờ. Các cơ sở tiếp nhận trên bờ phải có đủ điều kiện trang bị để tiếp nhận và phải có giấy phép của Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh cấp.
Điều 17. - Cấm tất cả các đối tượng được nêu trong Điều 3 thải các chất lỏng độc hại và chất rắn độc hại xuống vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh.
Điều 18. - Trong trường hợp các phương tiện thủy chuyên chở các chất lỏng và rắn vào vùng nước hay vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh nhưng chủ phương tiện không biết được chủng loại và tính độc hại của nó thì chủ phương tiện, hoặc thuyền trưởng phải báo Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh và cơ quan quản lý cảng biết để tiến hành xác định.
Điều 19. - Các phương tiện thủy có chở các loại hàng hóa độc hại (hàng rời hoặc trong bao gói, container, xi tec...) trước khi vào làm thủ tục nhập cảng phải thông báo cho cơ quan quản lý cảng về sự hiện diện của các loại hàng hóa này trên tàu.
Điều 20. - Khi tàu vào cảng, phải chịu sự kiểm tra về sự hiện diện, số, khối lượng, sự sắp xếp của các loại hàng hóa độc hại trên tàu.
Điều 21. - Trong quá trình neo đậu và trước khi rời cảng phải chịu sự giám sát về sự nguyên vẹn, không làm rò rỉ thất thoát, tràn, thấm các hàng hóa độc hại... ra vùng nước cảng.
Điều 22. - Nếu các tàu tiến hành việc nhận, dỡ các chất nguy hiểm, độc hại tại cảng thì phải chịu sự kiểm tra, giám sát để tránh việc làm rơi vãi, thất thoát, rò rỉ ra ngoài.
Điều 23. - Tất cả các phương tiện thủy khi hoạt động trong vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh có nhu cầu thải nước thải gây ô nhiễm và rác ra ngoài đều phải thông qua các phương tiện tiếp nhận trên bờ. Các cơ sở tiếp nhận trên bờ phải có đủ điều kiện trang bị để tiếp nhận và phải có giấy phép của Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh cấp.
Điều 24. Cấm tất cả các đối tượng được nêu trong Điều 3 thải rác và nước thải gây ô nhiễm vào vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh.
Điều 25. - Trong quá trình neo đậu nếu các tàu có yêu cầu làm vệ sinh, cọ, rửa tàu, nhất là đối với những tàu vận chuyển các chất độc hại chở xô (dạng rời), thì tàu phải chứa lại nước thải do quá trình vệ sinh trong các hầm két chứa nước thải của tàu, không được thải loại nước này xuống vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh.
Điều 26. - Cấm tất cả các phương tiện thủy chở chất phóng xạ vào vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh nếu không được sự chấp thuận của Chính phủ Việt Nam.
Điều 27. - Đơn vị, cá nhân và các phương tiện thủy gây ô nhiễm môi trường vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh trong bất cứ trường hợp nào đều bị buộc phải :
Điều 28. - Cá nhân, đơn vị và các phương tiện thủy gây ô nhiễm môi trường vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh ngoài việc thực hiện Điều 28, tùy theo mức độ gây hại sẽ còn bị xử phạt hành chính hoặc có thể bị truy tố trước pháp luật.
Điều 29. - Trong trường hợp xảy ra sự cố tràn dầu hoặc các chất độc hại vào vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh, thuyền trưởng hoặc chủ tàu phải kịp thời có các biện pháp thích ứng để ngăn ngừa sự lan rộng của dầu hay các chất độc hại.
Điều 30. - Tất cả mọi người đều phải có nghĩa vụ thông báo ngay lập tức về các vụ vi phạm gây ô nhiễm vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh dưới mọi hình thức và phương tiện thông tin cho Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh, Cảng vụ Sàigòn, cơ quan quản lý các cảng, các cơ quan quản lý đường thủy nội địa, cảnh sát đường thủy hoặc cơ quan chính quyền địa phương gần nhất biết.
Điều 31. - Mọi thông báo kịp thời sẽ được khen thưởng. Những đơn vị, cá nhân tự giác khai báo kịp thời cũng được giảm nhẹ hình thức xử phạt. Những đơn vị, cá nhân cố ý không khai báo kịp thời sẽ bị xử phạt hành chính hoặc có thể bị truy tố theo pháp luật hiện hành.
Điều 32. - Các tàu biển và tàu dầu của Việt Nam và nước ngoài không có biên lai tiếp nhận dầu cặn, rác của cảng ghé cuối cùng trước khi vào vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh để chứng minh cho việc đã đổ rác thảo dầu cặn nước chứa dầu vào nơi quy định theo Công ước Marpol 73/78, thì tàu sẽ bị coi là đã có dấu hiệu vi phạm các quy định của Công ước này và bị nghi ngờ là đã thải chúng xuống lãnh hải Việt Nam, chủ tàu có thể bị cảnh cáo hoặc bị phạt tiền hoặc không cho vào vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh.
Điều 33. - Không có nhật ký sử dụng dầu, hoặc không ghi nhật ký hoặc ghi thiếu trung thực, ghi sót về các yếu tố thời gian, địa điểm, số lượng dầu sử dụng và vận chuyển, giao nhận dầu, xả dầu cặn... đều bị coi như tàu đã làm trái các quy định của Công ước Marpol 73/78 và đã đổ bất hợp pháp dầu ra ven bờ biển quốc tế và Việt Nam không đúng nơi quy định, sẽ bị phạt tiền hoặc không cho vào vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh.
Điều 34. - Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường phối hợp chặt chẽ với Cảng vụ Sàigòn, các Ban quản lý các cảng, sông và các cơ quan chức năng để tổ chức triển khai thực hiện bản quy định này. Hàng quý phải tổng hợp tình hình công tác bảo vệ, kiểm soát và phòng chống ô nhiễm môi trường để báo cáo Ủy ban nhân dân thành phố, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường và Cục Hàng hải Việt Nam.
Điều 35. - Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh, Cảng vụ Sàigòn, các Ban quản lý các cảng sông, các cơ quan quản lý đường thủy nội địa và cảnh sát đường thủy là cơ quan thường trực bảo vệ, kiểm soát và phòng chống ô nhiễm môi trường giao thông thủy trong vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh.
Điều 36. - Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường phối hợp với Cảng vụ Sàigòn, Ban quản lý các cảng sông và các cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch phòng chống và ứng cứu sự cố môi trường giao thông thủy. Trong trường hợp sự cố môi trường có nguy cơ gây hậu quả nghiêm trọng đến vùng nước và vùng cảng thành phố Hồ Chí Minh, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường thành phố Hồ Chí Minh và Cảng vụ Sàigòn phải kịp thời báo cáo cho Ủy ban nhân dân thành phố, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường và Cục Hàng hải để nhanh chóng huy động và tăng cường mọi lực lượng ứng cứu, xử lý kịp thời.
Điều 37. - Các đơn vị, cá nhân và tàu thuyền Việt Nam và nước ngoài khi có hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến vùng nước và vùng cảng của thành phố Hồ Chí Minh phải nghiêm chỉnh thi hành bản quy định này. Mọi vi phạm bản quy định này sẽ bị xử lý theo luật pháp hiện hành của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.-

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.