Quyết định · UB

Quyết định 63/QĐ-UB

Ban hành Quy chế Tuyên truyền viên pháp luật cơ sở và tiêu chuẩn Báo cáo viên pháp luật ở thành phố Hải Phòng

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
14/01/2000
Ngày có hiệu lực
14/01/2000
Hết hiệu lực
15/01/2017
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Hướng dẫn thi hành (1)

Bố cục (19 điều)

Điều 1. Ban hành Quy chế về Tuyên truyền viên pháp luật cơ sở và tiêu chuẩn Báo cáo viên pháp luật ở thành phố Hải Phòng.
Điều 2. Giao cho Giám đốc Sở Tư pháp hướng dẫn các ngành, các cấp thực hiện Quy chế này và giúp Uỷ ban nhân dân thành phố quản lý đội ngũ Báo cáo viên pháp luật, Tuyên truyền viên pháp luật trên địa bàn thành phố theo qui định tại Quy chế Báo cáo viên pháp luật ban hành kèm theo Quyết định số 210/1999/QĐ-BTP ngày 09/7/1999 của Bộ Tư pháp và Quy chế ban hành kèm theo Quyết định này.
Điều 3. Các ông, bà Chánh Văn phòng Uỷ ban nhân dân thành phố, Giám đốc Sở Tư pháp, Thủ trưởng các Sở, Ban, ngành; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, quận, thị xã, xã, phường, thị trấn căn cứ chức năng, nhiệm vụ có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Chương I — NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
  Điều 1. Báo cáo pháp luật là một công tác tư tưởng văn hoá do Báo cáo viên, Tuyên truyền viên pháp luật thực hiện bằng lời nói, truyền đạt nội dung các quy định của pháp luật đến các đối tượng đã được xác định, giúp cho người nghe hiểu, nắm vững và thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật; góp phần tích cực nâng cao nhận thức, ý thức thi hành pháp luật trong cán bộ, nhân dân.
  Điều 2. Quy chế này quy định chi tiết về tiêu chuẩn Báo cáo viên pháp luật cấp thành phố, cấp huyện. Tổ chức và hoạt động của Báo cáo viên pháp luật thực hiện theo Quy chế Báo cáo viên pháp luật ban hành theo Quyết định số 210/1999/QĐ-BTP ngày 09/7/1999 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
  Điều 3. Tuyên truyền viên pháp luật khi thực hiện công tác báo cáo pháp luật phải đảm bảo yêu cầu sau:
  Điều 4. Tuyên truyền viên pháp luật ở đơn vị cơ sở nào chịu trách nhiệm thực hiện công tác báo cáo pháp luật ở đơn vị cơ sở đó. Trong trường hợp cần thiết có thể điều động các Tuyên truyền viên thực hiện công tác báo cáo pháp luật hỗ trợ đơn vị khác.
Chương II — TIÊU CHUẨN BÁO CÁO VIÊN PHÁP LUẬT
  Điều 5. Báo cáo viên pháp luật cấp thành phố phải có đủ các tiêu chuẩn sau:
  Điều 6. Báo cáo viên pháp luật cấp huyện phải có đủ các tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 đến khoản 5 Điều 5 Quy chế này; có trình độ Trung cấp Luật trở lên và đã công tác ở một lĩnh vực liên quan đến pháp luật ít nhất là 3 năm hoặc tốt nghiệp Đại học khác và có thời gian công tác ở lĩnh vực liên quan đến pháp luật ít nhất là 5 năm.
  Điều 7. Các Sở, Ban, ngành bố trí cán bộ, kiện toàn đội ngũ cán bộ pháp chế ngành, cán bộ pháp chế doanh nghiệp.
Chương III — TUYÊN TRUYỀN VIÊN PHÁP LUẬT Ở CƠ SỞ
  Điều 8. Tuyên truyền viên pháp luật ở cơ sở gồm Tuyên truyền viên pháp luật cấp xã và Tuyên truyền viên pháp luật ở doanh nghiệp.
  Điều 9. Việc công nhận và cấp thẻ cho Tuyên truyền viên pháp luật ở cơ sở thực hiện theo quy định sau:
  Điều 10. Thẻ Tuyên truyền viên pháp luật ở cơ sở do Giám đốc Sở Tư pháp quy định và phát hành thống nhất trên địa bàn thành phố. Thẻ Tuyên truyền viên pháp luật chứng nhận tư cách, năng lực của người được cấp thẻ trong hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật. Thẻ Tuyên truyền viên pháp luật bị thu hồi khi người được cấp thẻ bị xoá tên trong danh sách Tuyên truyền viên pháp luật.
  Điều 11. Tuyên truyền viên pháp luật có các quyền và nghĩa vụ sau:
  Điều 12. Sở Tư pháp thành phố, Phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm soạn thảo đề cương văn bản pháp luật cần phổ biến, cung cấp cho Tuyên truyền viên pháp luật. Trên cơ sở đề cương được cấp, Tuyên truyền viên xây dựng đề cương chi tiết phù hợp với yêu cầu thực tế và đối tượng cần phổ viến văn bản pháp luật đó.
  Điều 13. Việc quản lý Tuyên truyền viên pháp luật thực hiện theo quy định sau:
  Điều 14. Sở Tư pháp thành phố, Phòng Tư pháp cấp huyện có kế hoạch, chương trình báo cáo pháp luật, dự kiến thời gian Tuyên truyền viên thực hiện công tác báo cáo pháp luật, trao đổi thống nhất với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp nơi Tuyên truyền viên đang công tác, sinh hoạt. Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có cán bộ là Tuyên truyền viên tạo mọi điều kiện để Tuyên truyền viên thực hiện nhiệm vụ.
Chương IV — KINH PHÍ, KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT
  Điều 15. Kinh phí phục vụ cho hoạt động quản lý, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật, điều kiện hoạt động của Báo cáo viên, Tuyên truyền viên pháp luật do cơ quan Tư pháp các cấp dự trù trong kế hoạch chi ngân sách của cấp mình hàng năm và được xem xét cấp theo quy định.
  Điều 16. Báo cáo viên, Tuyên truyền viên pháp luật có thành tích được khen thưởng theo quy định chung của Nhà nước.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.