Văn bản · Hội đồng Bộ trưởng

Văn bản 66-HĐBT/0d08b84c

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
—
Ngày có hiệu lực
02/03/1992
Hết hiệu lực
03/02/2000
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bị thay thế / bãi bỏ bởi (3)

Được hướng dẫn bởi (11)

Hướng dẫn thi hành (2)

Bố cục (24 điều)

Điều 1. - Nghị định này áp dụng đối với các cá nhân và nhóm kinh doanh (sau đây gọi là người kinh doanh), có vốn thấp hơn vốn pháp định được quy định tại Nghị định số 221-HĐBT ngày 23 tháng 7 năm 1991.
Điều 2. - Nghị định này không áp dụng đối với:
Điều 3. - Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có vốn, có sức khoẻ, có kỹ thuật, chuyên môn, có địa điểm kinh doanh phù hợp với ngành nghề và mặt hàng kinh doanh, không bị pháp luật cấm kinh doanh đều được kinh doanh theo Nghị định này.
Điều 4. - Kinh doanh nói đây là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Điều 5.
Điều 6. - Người kinh doanh phải có đơn xin phép kinh doanh để được xét cấp giấy phép kinh doanh. Chỉ sau khi được cấp giấy phép kinh doanh, người kinh doanh mới được phép kinh doanh.
Điều 7. - Uỷ ban Nhân dân cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (dưới đây gọi là huyện) là cơ quan có thẩm quyền xem xét và cấp giấy phép kinh doanh cho những người kinh doanh trên địa bàn huyện quản lý.
Điều 8. - Người kinh doanh phải có đơn xin phép kinh doanh (theo mẫu quy định) gửi đến Uỷ ban Nhân dân huyện nơi kinh doanh.
Điều 9. - Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp nhận đủ hồ sơ xin phép kinh doanh, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân huyện quyết định cấp hay không cấp giấy phép kinh doanh cho người xin phép.
Điều 10. - Người kinh doanh phải nộp lệ phí theo quy định của Bộ Tài chính.
Điều 11. - Người kinh doanh phải niêm yết biển hiệu, bảng hiệu của cơ sở mình tại nơi được phép kinh doanh. Biển hiệu, bảng hiệu phải ghi rõ họ tên cơ sở kinh doanh, người kinh doanh, địa chỉ, số giấy phép kinh doanh được cấp.
Điều 12. - Khi thay đổi nội dung kinh doanh đã ghi trong giấy phép kinh doanh, người kinh doanh phải có đơn xin thay đổi gửi cơ quan đã cấp giấy phép kinh doanh. Chỉ sau khi được phép thay đổi mới được kinh doanh theo nội dung mới.
Điều 13. - Nếu tạm ngừng kinh doanh từ 30 ngày trở lên, người kinh doanh phải khai báo với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh và nói rõ lý do và thời hạn tạm ngừng kinh doanh. Cơ quan này cấp giấy xác nhận và làm căn cứ để người kinh doanh được miễn thuế trong thời gian tạm ngừng kinh doanh. Nếu người kinh doanh tự ý ngừng kinh doanh hoặc ngừng quá thời hạn đã khai báo thì coi như tự chấm dứt hoạt động kinh doanh, và bị thu hồi giấy phép kinh doanh.
Điều 14. - Người kinh doanh muốn chấm dứt hoạt động kinh doanh trước thời hạn phải có đơn khai báo với cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh trước 30 ngày. Cơ quan này thu hồi giấy phép kinh doanh và cấp giấy xác nhận ngừng kinh doanh. Chỉ sau khi được cấp giấy xác nhận ngừng kinh doanh, người kinh doanh mới không phải thực hiện các nghĩa vụ của người kinh doanh.
Điều 15. - Giấy phép kinh doanh hết hiệu lực trong các trường hợp sau đây:
Điều 16. - Người kinh doanh có quyền:
Điều 17. - Người kinh doanh có nghĩa vụ:
Điều 18. - Người kinh doanh chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Người kinh doanh có trách nhiệm báo cáo tình hình kinh doanh và xuất trình các giấy tờ, chứng từ liên quan đến hoạt động kinh doanh với cơ quan có thẩm quyền.
Điều 19. - Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh phải theo đúng chức năng, quyền hạn đã được pháp luật quy định. Nghiêm cấm việc kiểm tra, xử lý không đúng chức năng, quyền hạn, gây cản trở, phiền hà cho người kinh doanh hoặc gây thiệt hại đến hoạt động kinh doanh hợp pháp.
Điều 20. - Người kinh doanh vi phạm pháp luật Nhà nước và những quy định trong Nghị định này thì tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm sẽ bị xử phạt bằng biện pháp hành chính hoặc truy tố theo pháp luật.
Điều 21. - Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc cấp giấy phép kinh doanh hoặc trong việc kiểm tra, giám sát, xử lý đối với người kinh doanh, đã có hành vi trái pháp luật hoặc không theo đúng những quy định trong Nghị định này thì tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm bị xử lý kỷ luật bồi thường thiệt hại hoặc truy tố theo pháp luật.
Điều 22. - Nghị định này có hiệu lực kể từ ngày ký. Bãi bỏ Nghị định số 27-HĐBT ngày 09 tháng 3 năm 1988, Điều 1 Nghị định số 146-HĐBT ngày 24 tháng 9 năm 1988 của Hội đồng Bộ trưởng và những quy định khác trước đây trái với Nghị định này.
Điều 23. - Người kinh doanh đã được cấp giấy đăng ký kinh doanh trước ngày ban hành Nghị định này phải làm lại thủ tục xin phép kinh doanh theo các quy định của Nghị định này.
Điều 24. - Căn cứ Nghị định này, Bộ trưởng các Bộ quản lý ngành và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm rà soát lại các quy định đã ban hành trước đây để sửa đổi, bổ sung, ban hành mới, hướng dẫn việc thực hiện và kiểm tra việc thực hiện trong ngành và địa phương.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.