Văn bản · Hội đồng Bộ trưởng

Văn bản 67-HĐBT/0d08b84c

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
—
Ngày có hiệu lực
15/06/1989
Hết hiệu lực
08/11/1998
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)

Hướng dẫn thi hành (1)

Bố cục (12 điều)

Điều 1. - Cờ truyền thống của Lực lượng Cảnh sát Nhân dân Việt Nam hình chữ nhật, chiều rộng bằng 2/3 chiều dài, nền cờ màu đỏ, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh, ở góc trên phía trái có 6 chữ vàng "Bảo vệ an ninh Tổ quốc" nét cuối của chữ thứ sáu không được vượt quá đầu của cánh sao về phía phải). Cờ truyền thống của Lực lượng Cảnh sát được dùng trong các cuộc diễu binh, mít tinh kỷ niệm những ngày lễ, ngày truyền thống, trưng bày trong nhà bảo tàng, nhà truyền thống.
Điều 2. - Cảnh sát hiệu của sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Cảnh sát Nhân dân Việt Nam bằng kim khí hình tròn đường kính 30 mm, ở giữa có ngôi sao vàng năm cánh dặt trên nền đỏ hình tròn đường kính 20 mm, liền với nền đỏ là nền xanh thẫm, xung quanh có hai bông lúa, phía dưới bông lúa có nửa bánh xe và chữ lồng CS (là hai chữ đầu của từ Cảnh sát), vành ngoài của cảnh sát hiệu màu vàng. Khi đội mũ kê-pi, có cành tùng màu bạc bao xung quanh cảnh sát hiệu.
Điều 3. - Cấp hiệu của sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ và học viên Cảnh sát nhân dân Việt Nam.
Điều 4. - Phù hiệu của Lực lượng Cảnh sát nhân dân Việt Nam. Khi đeo cấp hiệu trên vai áo, có phù hiệu ở ve cổ áo nền phù hiệu màu đỏ, có gắn hình cảnh sát hiệu nổi ở chính giữa đường kính 18 mm bằng kim khí. Riêng phù hiệu của cấp tướng có 3 vạch viền màu vàng.
Điều 5. - Phù hiệu kết hợp với cấp hiệu của sĩ quan, hạ sĩ quan và chiến sĩ Cảnh sát nhân dân Việt Nam quy định như sau:
Điều 6. - Số hiệu của Lực lượng Cảnh sát nhân dân. Số hiệu của Lực lượng Cảnh sát nhân dân do Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định.
Điều 7. - Lễ phục của sĩ quan Cảnh sát nhân dân.
Điều 8. - Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân trong khi làm nhiệm vụ, hội họp phải mang trang phục cảnh sát đúng quy định, trừ các lực lượng nghiệp vụ làm việc có tính chất bí mật, chỉ sử dụng trang phục cảnh sát khi thật cần thiết theo lệnh của Cục trưởng, Chỉ huy trưởng cảnh sát cấp tỉnh. Nghiêm cấm lợi dụng trang phục cảnh sát để làm những việc trái pháp luật.
Điều 9. - Việc sử dụng cảnh sát hiệu, cấp hiệu, phù hiệu, lễ phục và trang phục cảnh sát đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ cảnh sát đã chuyển ra khỏi Lực lượng Cảnh sát nhân dân do Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định.
Điều 10. - Sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân được cấp giấy chứng nhận theo mẫu quy định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Giấy chứng nhận Cảnh sát nhân dân có giá trị pháp lý để cán bộ, chiến sĩ cảnh sát sử dụng khi thi hành nhiệm vụ.
Điều 11. - Nghị định này thay thế các điều 4, điều 5, điều 6, điều 7, điều 8 của Nghị định số 113-CP ngày 10-10-1962 của Hội đồng Chính phủ và có hiệu lực thi hành kể từ ngày ban hành.
Điều 12. - Bộ trưởng Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.