Sắc lệnh · Chủ tịch nước

Sắc lệnh 77/SL

quy định chế độ công nhân giúp việc Chính phủ trong thời kỳ kháng chiến (thiếu trang 2)

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
22/05/1950
Ngày có hiệu lực
06/06/1950
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bị sửa đổi, bổ sung bởi (1)

Được hướng dẫn bởi (4)

Hướng dẫn thi hành (2)

Bố cục (60 điều)

Điều 1. Trong thời kỳ kháng chiến công nhân giúp việc Chính phủ sẽ theo chế độ ấn định trong sắc lệnh này.
Điều 2. Công nhân giúp việc Chính phủ sẽ theo một thang lương chung gồm 18 bậc, ấn định trong bản số 1 đính theo sắc lệnh này.
Điều 3. Việc xếp vào ngạch bậc trong thang lương chung sẽ căn cứ theo những tiêu chuẩn ấn định trong bảng số 2 đính theo sắc lệnh này.
Điều 4. Mỗi Bộ sẽ cùng với Bộ Lao động, Bộ Tài chính và Bộ Nội vụ dựa theo quy chế chung đặt thể lệ riêng cho những ngạch công nhân không có trong bảng tiêu chuẩn nói trên.
Điều 5. Ngoài số lương tháng, công nhân giúp việc Chính phủ được hưởng những phụ cấp và tiền thưởng dưới đây:
Điều 6. Những công nhân đàn bà, mà chồng không giúp việc Chính phủ được hưởng các thứ phụ cấp cho con như công nhân đàn ông và cả cho chồng, nếu chồng tàng tật không thể làm việc được.
Điều 7.
Điều 8. Công nhân muốn được tuyển vào giúp việc Chính phủ phải có những điều kiện dưới đây:
Điều 9. Trước khi được tuyển vào chính ngạch, công nhân phải qua một thời kỳ tập sự từ 6 tháng đến 1 năm. Công nhân có nghề chỉ phải qua một thời kỳ thử thách không quá 3 tháng.
Điều 10. Trong thời kỳ tập sự hay thử thách, công nhân tuỳ trường hợp được xếp vào bậc được tuyển.
Điều 11. Công nhân ở bất cứ ngạch bậc nào cũng có thể dự những kỳ thi chuyên nghiệp để có thể được bổ lên ngạch bậc trên.
Điều 12. Công nhân trưng tập được xếp vào bậc với những công nhân có năng lực tương đương. Nếu thời hạn trưng tập quá một năm thì tuy vẫn ở chế độ trưng tập, thời hạn một năm đó sẽ kể như thời hạn tập sự để tăng lên bậc trên.
Điều 13. Công nhân được tuyển trước ngày ký sắc lệnh này sẽ được xếp vào ngạch và bậc mới, chiểu theo năng lực và thời gian làm việc, căn cứ theo những tiêu chuẩn ấn định trong bảng số 2 nói ở điều 3.
Điều 14. Việc thăng thưởng cho công nhận sẽ do một Hội đồng thăng thưởng xét, mỗi năm một kỳ, vào ngày 1 tháng 5 và ngày 19 tháng 12 dương lịch. Được đề nghị thăng thưởng những công nhân có thâm niên ít nhất là hai năm ở bậc của mình, tính đến ngày 1 tháng 5 dương lịch.
Điều 15. Hội đồng thăng thưởng gồm có:
Điều 16. Hội đồng thăng thưởng xét hồ sơ lý lịch các công nhân đủ hạn thâm niên, rồi lập bảng thăng thưởng theo thứ tự hơn kém.
Điều 17. Công nhân ở một bậc nào chỉ được thăng lên bậc liền trên trong ngạch mình.
Điều 18. Công nhân có công trạng và thành tích đặc biệt có thể được đặc cách cho thăng một hay nhiều bậc, hoặc cho chuyển lên ngạch trên, bất cứ lúc nào và không cần điều kiện thâm niên.
Điều 19. Thời hạn tại ngũ của công nhân tòng ngũ sẽ tính vào thâm niên trong ngạch bậc của mình.
Điều 20. Sự thăng thưởng có hiệu lực về phương diện lương bổng và thâm niên kể từ ngày 1 tháng 5 mỗi năm, hoặc kể từ ngày ký nghị định thăng thưởng đối với những trường hợp đặc cách thăng thưởng.
Điều 21. Những công nhân tận tuỵ với chức vụ, có công trạng hay thành tích về sản xuất, sáng chế, phát minh, v.v... sẽ được khen thưởng bằng:
Điều 22. Giờ làm việc: Thì giờ làm việc là 9 tiếng một ngày.
Điều 23. Công nhân có thể làm đêm, nếu tính chất công việc và điều kiện chuyên môn buộc phải làm đêm.
Điều 24. Nếu vì một duyên cớ gì bắt buộc phải làm thêm giờ để kịp thực hiện chương trình sản xuất đã định, thì công nhân phải làm thêm giờ.
Điều 25. Nếu gặp công việc gấp rút, bất thường, thời hạn làm việc mỗi ngày sẽ không hạn định, để làm cho xong công việc ấy.
Điều 26. Nghỉ hàng tuần: Mỗi tuần công nhân được nghỉ một ngày. Ngày nghỉ hàng tuần có thể là ngày chủ nhật hay một ngày khác trong tuần.
Điều 27. Nghỉ lễ chính thức: Tất cả công nhân đều được nghỉ những ngày lễ chính thức đã định trong sắc lệnh số 29-SL ngày 12 tháng 3 năm 1947.
Điều 28. Nghỉ hàng năm: Mỗi năm, những công nhân đã làm trong xí nghiệp đúng một năm, được nghỉ 15 ngày liền lĩnh cả lương và phụ cấp.
Điều 29. Nghỉ vì đau ốm: Một nghị định liên Bộ Lao động, Tài chính, Y tế sẽ quy định việc cho công nhân nằm điều trị tại bệnh viện, cho nghỉ dưỡng bệnh, cho nghỉ vì mắc bệnh lao, hay bệnh phong.
Điều 30. Nghỉ vì thai sản: Công nhân đàn bà trong thời kỳ thai sản, được nghỉ hai tháng lĩnh cả lương và phụ cấp, một tháng trước và một tháng sau ngày sinh đẻ.
Điều 31. Công nhân thôi giúp việc Chính phủ trong trường hợp dưới đây:
Điều 32. Xin thôi việc: Công nhân muốn xin thôi việc phải làm đơn trước hai tháng. Xét nhu cầu công việc, cơ quan quản trị có thể không chấp nhận.
Điều 33. Những công nhân phạm lỗi đang bị cấp chỉ huy đề nghị trừng phạt, truy tố trước toà án, không được xin thôi việc ngay, phải đợi quyết định của cơ quan quản trị hay bản án của toà án.
Điều 34. Thôi việc vì thiếu sức khoẻ: Công nhân không đủ sức khoẻ để tiếp tục công việc sẽ phải thôi việc, theo đề nghị của Hội đồng Giám định y khoa.
Điều 35. Công nhân thôi việc vì thiếu sức khoẻ được hưởng một khoản trợ cấp tính theo số năm làm việc. Trợ cấp mỗi năm bằng một tháng lương gồm cả phụ cấp gia đình; nhưng tổng số không được quá 6 tháng gồm cả phụ cấp gia đình.
Điều 36. Thải hồi: Những công nhân đã làm việc trên một năm mà bị thải hồi vì thiếu năng lực, sẽ được hưởng một khoản trợ cấp tính bằng hai tháng lương và phụ cấp gia đình.
Điều 37. Những công nhân bị thải hồi vì phạm kỷ luật không được tuyển dụng lại vào một cơ quan nào khác của Chính phủ. Công nhân thải hồi vì phạm về hình luật, tùy trường hợp có thể không được tuyển dụng lại.
Điều 38. Công nhân chết vì đau ốm: Khi một công nhân chết vì đau ốm, vợ hoặc chồng hoặc con được hưởng một khoản tiền tính theo cách thức nói ở điều 36 trên, cùng số lương công nhân chưa lĩnh tính đến ngày thôi việc.
Điều 39. Nếu công nhân chết vì một tai nạn lao động, vợ chồng hoặc con được hưởng một khoản tiền bằng một năm lương có phụ cấp gia đình.
Điều 40. Trong lúc chờ đợi thành lập một quỹ bảo hiểm xã hội, công nhân bị tai nạn lao động mà một Hội đồng giám định y khoa chứng nhận phải chịu thương tật, thì tạm thời được hưởng một khoản trợ cấp bằng từ 3 tháng đến 1 năm lương, kể cả phụ cấp gia đình, tuỳ theo thương tật nặng hay nhẹ.
Điều 41. Tiền phí tổn để mai táng những công nhân chết vì đau ốm hay vì tai nạn lao động do cơ quan dùng công nhân chịu.
Điều 42. Về hưu: Sau khi làm việc được 30 năm, hoặc đã đủ 55 tuổi, công nhân được về hưu.
Điều 43. Trong trường hợp đặc biệt, công nhân đến hạn về hưu có thể được giữ lại giúp việc do quyết định của cơ quan quản trị.
Điều 44. Công nhân đã về hưu mà được gọi ra làm việc lại được hưởng lương bổng theo năng lực và công việc mới của mình.
Điều 45. Công nhân đã đủ điều kiện về hưu mà được giữ lại giúp việc hay công nhân đã về hưu mà được gọi ra làm việc lại, được quyền lĩnh số phụ cấp thâm niên, ngoài sổ lương tháng được lĩnh.
Điều 46. Phụ cấp thâm niên do nghị định Bộ Tài chính, Lao động, Nội vụ quy định sau.
Điều 47. Tuỳ theo lỗi nặng nhẹ, công nhân phạm kỷ luật sẽ chịu một trong những trừng phạt dưới đây:
Điều 48. Công nhân phạm kỷ luật sẽ bị đưa ra trước một Hội đồng kỷ luật gồm có:
Điều 49. Công nhân phạm lỗi thuộc về hình luật sẽ bị truy tố trước toà án, đồng thời có thể buộc phải nghỉ việc. Trong thời gian đợi toà án xét xử, công nhân bị cáo được lĩnh phần nửa lương và phụ cấp.
Điều 50. Sau khi toà án xét xử, nếu công nhân được tha bổng thì sẽ được truy lĩnh số lương bổng từ khi buộc phải nghỉ việc.
Điều 51. Công nhân giúp việc trong các cơ quan thuộc Bộ Quốc phòng vô cớ bỏ việc sẽ coi như quân nhân đào ngũ và sẽ bị truy tố trước toà án binh.
Điều 52. Người tình nguyện học nghề phải được 14 tuổi trở lên. Sau thời gian học nghề từ 6 tháng đến 1 năm người học nghề phải qua một kỳ khảo sát để được tuyển vào thợ tập sự. Hội đồng khảo sát gồm có:
Điều 53. Một ngày ít nhất phải có 3 giờ dạy về lý thuyết và văn hoá.
Điều 54. Trong lúc học nghề, người học nghề được cấp sinh hoạt phí.
Điều 55. Những người trên 18 tuổi mà vào học nghề được lĩnh lương tháng như một công nhân thường ở bậc bắt đầu của thang lương chung. Sau một thời gian học nghề không quá một năm thì người học nghề sẽ tuỳ theo năng lực được tuyển vào ngạch và xếp vào bậc của thang lương chung.
Điều 56. Ngoài các hạng công nhân tuyển dụng theo quy chế này các cơ quan Chính phủ còn có thể dùng công nhân theo giao kèo, hoặc mướn theo công nhật.
Điều 57. Lương bổng và điều kiện làm việc của công nhân có giao kèo, sẽ quy định trong các bản giao kèo ký kết giữa công nhân và cơ quan dùng nhân công.
Điều 58. Chi tiết thi hành sắc lệnh này sẽ do nghị định Bộ trưởng Bộ Lao động ấn định.
Điều 59. Những thể lệ trái với sắc lệnh này đều bãi bỏ.
Điều 60. Các ông Bộ trưởng các Bộ chiểu sắc lệnh thi hành.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.