Văn bản

Văn bản 801/QĐ

Ban hành quy phạm phòng cháy, chữa cháy rừng thông, rừng tràm và một số loại rừng dễ cháy khác

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
26/09/1986
Ngày có hiệu lực
26/09/1986
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bố cục (55 điều)

Điều 1. Nay ban hành kèm theo Quyết định này bản "Quy phạm phòng cháy, chữa cháy rừng thông, rừng tràm và một số loại rừng dễ cháy khác" (QPN8-86).
Điều 2. Quy phạm này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Điều 3. Các đồng chí Chánh Văn phòng Bộ, Cục trưởng Cục kiểm lâm nhân dân, Vụ trưởng Vụ kỹ thuật, Thủ trưởng các Vụ, Viện, Ban trực thuộc Bộ có liên quan, Tổng giám đốc các Liên hiệp Lâm - Nông - Công nghiệp, Liên hiệp nguyên liệu giấy, Giám đốc Công ty giống và phục vụ trồng rừng, Công ty lâm sản, đặc sản xuất khẩu, Công ty gỗ mỏ, Giám đốc các Sở Lâm nghiệp chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Điều 1. Quy phạm này quy định những yêu cầu về kỹ thuật phòng cháy, chữa cháy rừng thông, rừng tràm và một số loại rừng dễ cháy khác và hệ thống tổ chức lực lượng về phòng và chữa cháy ở cơ sở.
Điều 2. Căn cứ vào từng trường hợp cụ thể mà áp dụng việc xây dựng băng trắng, băng xanh, quy vùng sản xuất nương rẫy, làm chòi canh, xây dựng hệ thống thông tin, tuyên truyền giáo dục.
Điều 3. Căn cứ vào tình hình cụ thể từng nơi mà áp dụng việc dự báo cháy rừng theo phương pháp tổng hợp với xây dựng hệ thống thông tin vô tuyến kết hợp với hệ thống thông tin đại chúng ở địa phương. Tất cả những nội dung trên đều được Cục kiểm lâm nhân dân tập huấn; nhân viên dự báo và thông tin vô tuyến phòng cháy chữa cháy rừng phải có giấy chứng nhận đã được đào tạo về nghiệp vụ kỹ thuật.
Điều 4. Băng trắng và băng xanh nhằm ngăn chặn cách giữa rừng cây với nương rẫy ruộng, vườn, bãi gỗ, điểm dân cư, đường giao thông (đường sắt, đường bộ...), kho tàng, biên giới v.v... và phân chia khu rừng dễ cháy thành những lô, khoảnh.
Điều 5. Khi thiết kế trồng rừng thông và các loại rừng dễ cháy khác nhất thiết phải thiết kế, thi công ngay hệ thống đường băng trắng hoặc băng xanh. Nếu độ dốc trên 25 độ thì không được làm băng trắng, mà phải trồng ngay cây xanh trên băng cùng với việc trồng rừng ngay năm đó.
Điều 6. Xây dựng đường băng trắng chỉ áp dụng một, hai năm đầu ở rừng tự nhiên nơi có độ dốc dưới 25 độ vì chưa đủ điều kiện để trồng băng xanh. Khi có điều kiện thì tiến hành trồng ngay cây xanh. Băng trắng đối với rừng tự nhiên có độ rộng tối thiểu 10 - 16m. Khi xây dựng băng trắng phải xử lý thực bì, phơi khô, vun thành dải cách bìa rừng 5-8 m; đốt vào đầu mùa khô, khi đốt phải cử người canh gác, đốt lúc gió nhẹ, vào buổi sáng hoặc chiều tối, tuyệt đối không để lửa cháy lan vào rừng. Đốt xong phải tiến hành kiểm tra toàn bộ đường băng cho tới khi lửa tắt hẳn.
Điều 7. Phải xây dựng đường băng xanh hỗn giao bằng nhiều loại cây, có kết cấu nhiều tầng bao gồm:
Điều 8. Đối với rừng ở trạng thái rừng sào, độ rộng của đường băng phải lớn hơn chiều cao của cây rừng.
Điều 9. Hướng của đường băng
Điều 10. Phải quy hoạch và xây dựng để sử dụng các thung, khe, đầm hồ, ao sẵn có để dự trữ nước cho việc chữa cháy rừng.
Điều 11. Phải tiến hành thiết kế, thi công, hoàn chỉnh hệ thống kênh mương cùng với việc thiết kế, thi công trồng rừng tràm, duy trì nguồn nước ngọt, ngăn ngừa cháy ngầm, cháy lan và cháy lướt ở rừng tràm. Các loại kênh phòng cháy gồm: kênh chính (kênh cấp khu), kênh phụ (kênh cấp tiểu khu), kênh nhánh (kênh cấp khoảnh và kênh cấp lô). Phải đắp đập ở các cửa kênh để giữ nước cho rừng tràm trong suốt mùa khô.
Điều 12. Kênh chính phân chia rừng hoặc bao bọc những khu rừng lớn có diện tích từ 5.000 ha đến 10.000 ha.
Điều 13. Kênh phụ (kênh cấp tiểu khu) phân chia những khu rừng mà kênh chính đã phân chia thành những tiểu khu, khoảng cách giữa các kênh phụ với nhau từ 1.500m đến 2.000m. Kênh phụ (kênh tiểu khu) có kích thước: mặt rộng 3m, sâu 1,5 - 2m, đáy rộng 3 - 4m; đất đào đắp về một bên hoặc hai bên tạo thành đường bộ đi lại.
Điều 14. Kênh khoảnh, và kênh lô ở rừng tràm được bố trí theo kích cỡ sau đây: kênh nọ cách kênh kia 500 - 1000m, độ sâu của kênh được xác định theo độ dày của lớp thảm mục và than bùn, đáy của kênh sâu 1,2 - 1,5m phải thấp hơn đáy lớp than bùn trên 20cm, mặt kênh rộng 2-3m, đáy rộng 1-2m đất đào đắp về một bên.
Điều 15. Trồng băng xanh trên hệ thống kênh mương theo quy định sau:
Điều 16. Chú ý chọn tập đoàn loại cây ở địa phương có sức chống chịu lửa giỏi: cây chứa nhiều nước, có khả năng chịu nhiệt độ cao; vỏ dày, không rụng lá trong mùa khô, cây có sức tái sinh hạt và chồi mạnh, sinh trưởng phát triển nhanh. Cây trồng trên băng không có cùng loài sâu bệnh hại với cây trồng rừng, hoặc không là ký chủ của các loài sâu bệnh hại cây rừng, cây trồng tạo đai rừng phòng cháy.
Điều 17. Vị trí chòi canh phải đặt ở nơi có tầm nhìn xa nhất (tối thiểu từ 5 đến 10km) để dễ dàng phát hiện các đám khói, hoặc lửa bốc lên, dự đoán được mức độ cháy to hay nhỏ, để huy động kịp thời lực lượng đến dập tắt lửa rừng.
Điều 18. Chòi canh phải có độ cao hơn chiều cao khu rừng, gồm hai loại:
Điều 19. Yêu cầu khi xây dựng chòi chính và chòi phụ: phải có thang lên xuống, xung quanh chân chòi phải dọn sạch cây trong phạm vi bán kính 20-30m, có một gian nhà có 4 cửa để quan sát 4 phía, có bản đồ khu vực rừng cần bảo vệ, có ống nhòm, có kẻng để báo động hoặc máy thông tin.
Điều 20. Mỗi chòi có một nhóm công tác từ 2-3 người thay nhau làm việc; vào thời kỳ cao điểm dự báo cháy rừng ở cấp 4 và 5, chòi phải có người làm việc thường xuyên 24/24 giờ 1 ngày. Khi nhân viên quan sát phát hiện thấy cháy rừng, phải xác định tọa độ đám cháy, báo cáo về trung tâm chỉ huy và báo động để kịp thời huy động lực lượng, phương tiện cứu chữa.
Điều 21. Các hạt kiểm lâm nhân dân giúp Ủy ban nhân dân huyện trong việc thống kê, quản lý, quy vùng tạm thời, xét duyệt và cho phép làm nương rẫy trên những đất đai đã được Ủy ban nhân dân tỉnh quy định. Trong việc quy vùng nương rẫy, trước hết phải có quy hoạch, phân vùng vạch rõ ranh giới, có mốc bảng, niêm yết ngoài thực địa, lập bản đồ quy hoạch phân vùng loại đất đai làm nương rẫy.
Điều 22. Trong những vùng được phép sản xuất nương rẫy thì khi làm nương phải phát dọn toàn bộ thực bì, phơi khô và vun thành dải rộng 2-3m, dải nọ cách dải kia 5-6m, dải sát bìa rừng phải cách xa rừng từ 6-8m, đốt lúc gió nhẹ vào buổi tối hoặc buổi sáng, đốt lần lượt từng dải, thứ tự từ trên sườn đồi xuống chân đồi.
Điều 23. Lúc đốt phải cử người canh gác. Cứ 10 - 15m có một người gác trên băng. Khi đốt phải báo cáo cho hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, ban lâm nghiệp xã và tổ đội quần chúng phòng chữa cháy rừng của hợp tác xã. Tuyệt đối không được để lửa cháy lan vào rừng. Đốt xong, kiểm tra toàn bộ nương cho tới khi lửa tắt hẳn.
Điều 24. Gắn chặt việc quy vùng sản xuất nương rẫy với công tác giao đất giao rừng, khoanh rừng cho hộ gia đình, hợp tác xã, cơ quan, đơn vị, công nông trường, xí nghiệp đóng trong rừng và ven rừng quản lý, bảo vệ, kinh doanh, phòng cháy chữa cháy rừng theo đúng chế độ, luật pháp, giữ cho rừng an toàn về lửa trong suốt mùa khô hanh.
Điều 25. Để chủ động phòng và chữa cháy rừng có hiệu quả cần tiến hành dự báo khả năng có thể xuất hiện cháy rừng ở từng địa phương theo phương pháp tổng hợp gồm 4 nội dung sau:
Điều 26. Phải xây dựng các trạm quan trắc dự báo cháy rừng để theo dõi các yếu tố tiểu khí hậu ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng xuất hiện cháy rừng, hàng ngày thu thập số liệu 3 lần vào hồi: 7giờ, 13 giờ, 19 giờ; đo các số liệu; nhiệt độ, độ ẩm không khí, độ ẩm vật liệu cháy, độ ẩm đất, tốc độ gió, mưa v.v...
Điều 27. Vị trí trạm dự báo phải đại diện cho cả một khu vực cần theo dõi dự báo cháy rộng 15 - 20 ngàn ha. Nếu khu vực quá rộng, địa hình phức tạp thì bố trí một hệ thống trạm dự báo liên hoàn, có một trạm chính (trung tâm trạm) và các trạm phụ. Nếu địa hình rừng không phức tạp thì cách trạm chính 15 - 20km có 1 trạm phụ. Nếu địa hình rừng núi phức tạp thì cách trạm chính 10 - 15km có một trạm phụ.
Điều 28. Trạm chính làm nhiệm vụ: xác định mùa cháy hàng ngày, đo đếm các thông số khí tượng, thủy văn, tính toán cấp cháy và thông báo kịp thời cấp cháy để các cơ sở có biện pháp phòng và chữa cháy rừng.
Điều 29. Khi dự báo cháy rừng nếu đã đến cấp cao nhất (cấp V) mà thời tiết vẫn còn tiếp tục hanh khô kéo dài, khắc nghiệt thì việc dự báo cháy rừng phải tính bổ sung tưong quan giữa hàm lượng nước của vật liệu cháy với khả năng phát sinh cháy rừng để có biện pháp tích cực ngăn ngừa cháy rừng.
Điều 30. Chi cục kiểm lâm nhân dân có trách nhiệm xây dựng hệ thống trạm dự báo cháy rừng ở những vùng trọng điểm dễ cháy cho toàn vùng, chỉ đạo thực hiện nghiêm chỉnh việc phòng cháy, chữa cháy rừng theo 5 cấp dự báo do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành.
Điều 31.
Điều 32. Ở những vùng rừng thông và rừng dễ cháy khác tập trung quy mô lớn dễ xảy ra nạn cháy rừng nghiêm trọng thì lực lượng kiểm lâm nhân dân có nhiệm vụ cùng với các đơn vị sản xuất và địa phương tiến hành khảo sát, thiết kế, thi công, bồi dưỡng nghiệp vụ kỹ thuật xây dựng hệ thống thông tin phòng và chữa cháy.
Điều 33. Các đơn vị được trang bị trạm dự báo cháy rừng, hệ thống thông tin có nhiệm vụ giữ gìn, bảo dưỡng máy móc, trang thiết bị đúng nội quy, bảo đảm việc tính toán dự báo và thông tin cấp cháy thông suốt thường xuyên.
Điều 34. Khi phát hiện đám cháy rừng, phải huy động kịp thời lực lượng, phương tiện thủ công và cơ giới, nguồn nước tại chỗ để cứu chữa. Nếu lực lượng và phương tiện này không đủ sức cứu chữa, cơ sở báo cáo ngay lên cấp trên để có biện pháp tăng cường lực lượng, phương tiện đến cứu chữa.
Điều 35. Lực lượng chữa cháy tiến hành giới hạn đám cháy bằng cách tạo ra các băng trắng ngăn lửa, có chiều rộng từ 15 đến 20m; nếu tốc độ gió lớn, tốc độ lửa lan tràn quá nhanh phải làm các băng trắng có độ rộng 20-30m.
Điều 36. Trong điều kiện thời tiết khô kiệt, thực bì trong rừng khô nỏ, khi xảy ra cháy rừng phải:
Điều 37. Trong trường hợp có nguồn vật liệu lớn, do ảnh hưởng của nhiệt độ cao, cả những cây còn sống cũng có thể bị khô héo đi mà cháy theo thì phải làm nhiều đai cản lửa dự phòng. Khi gió quá to, tốc độ lan tràn của lửa quá nhanh, lượng tàn lửa băng qua đai có thể làm bốc cháy các vật liệu ngay sau đai đám cháy đe dọa, tiếp tục lan tràn, thì cũng phải làm nhiều đai cản lửa dự phòng.
Điều 38. Đối với rừng tràm ở Nam Bộ và rừng phân bố trên núi cao có lớp thảm mục dày từ 0,5m trở lên, khi chữa cháy rừng nên đào rãnh để ngăn cháy ngầm. Rãnh phải đào sâu hết lớp thảm mục và xuống tầng đất 20-50cm, rộng từ 6-10m, thảm mục dọn về phía sau ngọn lửa, đất hắt về phía đầu ngọn lửa sắp lan tràn đến.
Điều 39. Khi chữa cháy, lực lượng bố trí theo hai cách sau đây:
Điều 40. Khi chữa cháy có thể sử dụng một trong các biện pháp sau đây để dập lửa: dùng nước, đất vụn, cát, cành cây tươi hoặc dùng hóa chất như P2O5, K2PO4, CO2 v.v. để làm suy yếu ngay 1,2 hoặc cả 3 yếu tố tham gia quá trình cháy: nguyên liệu, ôxy và nhiệt.
Điều 41. Sau khai thác phải vệ sinh rừng, tận dụng tất cả các sản phẩm sau khai thác, dọn sạch phế liệu, tạo băng trắng theo đường đồng mức để ngăn lửa cháy lan, cháy lướt dưới tán rừng.
Điều 42. Chú ý đảm bảo an toàn lao động khi chữa cháy rừng; bố trí lực lượng cháy rừng theo từng tổ, nhóm, có người phụ trách chỉ huy thống nhất. Lực lượng chữa cháy phải tập kết phía sau ngọn lửa. Cách xa ngọn lửa trên 100m, xung quanh nơi tập kết nên làm băng trắng ngăn cách trên 50m. Chuẩn bị đủ nước uống và thuốc bỏng; trường hợp bị thương nặng hay bị tử vong phải lập biên bản tại chỗ để sau này tiện việc giải quyết chính sách chế độ.
Điều 43. Khi chữa cháy xong, các chi cục, trạm, hạt kiểm lâm nhân dân tiến hành điều tra xác minh, tìm nguyên nhân gây cháy, lập biên bản về thống kê báo cáo lên cấp trên về thiệt hại do cháy rừng gây ra theo mẫu ở phần phụ lục: biểu 1.
Điều 44. Ở các vùng trọng điểm có rừng dễ cháy, lực lượng kiểm lâm nhân dân giúp Ủy ban nhân dân các cấp xây dựng phương án và thành lập ban chỉ đạo phòng chữa cháy rừng do đồng chí Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch làm Trưởng ban, thủ trưởng hoặc phó thủ trường ngành lâm nghiệp làm phó ban, đại diện các ngành hữu quan tham gia làm ủy viên. Các ban này có chức năng giúp các cấp bộ Đảng, chính quyền địa phương tổ chức chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc việc phòng cháy chữa cháy rừng ở cơ sở trong suốt mùa khô hanh.
Điều 45. Lực lượng kiểm lâm nhân dân ở các hạt trạm, đội chuyên trách phòng chữa cháy rừng ở vùng trọng điểm vào thời kỳ cao điểm dễ cháy cần được tổ chức thành các nhóm công tác 2 - 3 người, có nhóm trưởng phụ trách: từ 3 đến 5 nhóm hợp thành một tổ công tác, có tổ trưởng phụ trách, lực lượng này cần được triển khai đến tận các tiểu khu. Mỗi nhóm phụ trách 1000-2000 ha rừng, có nhiệm vụ tổ chức bồi dưỡng, huấn luyện nghiệp vụ cho một tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng 15 - 30 người để cùng nhóm kiểm lâm nhân dân đặc trách phòng chữa cháy rừng.
Điều 46. Mỗi tổ, đội quần chúng bảo vệ rừng ở thôn, bản gồm có 15 - 20 người, ở các nông trường, lâm trường, xí nghiệp đơn vị vũ trang có 15 - 30 người. Tổ chức này được trang bị các dụng cụ, phương tiện và huấn luyện nghiệp vụ, kỹ thuật cùng lực lượng kiểm lâm nhân dân ở các tiểu khu làm nhiệm vụ thường xuyên tuần tra, canh gác diện tích rừng được giao khoán để bảo vệ và được hưởng thù lao theo chế độ và nguồn kinh phí do Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định.
Điều 47. Trong suốt mùa khô các chi cục, hạt, trạm kiểm lâm nhân dân hàng năm cần có kế hoạch thật cụ thể mở các đợt tuyên truyền, giáo dục cho phù hợp với đặc điểm của địa phương; các Giám đốc lâm trường, đội trưởng, phân trường trưởng có trách nhiệm chỉ đạo sát sao việc phòng cháy chữa cháy rừng trong phạm vi đơn vị quản lý kinh doanh.
Điều 48. Giám đốc các Sở Lâm nghiệp căn cứ vào bản quy phạm này để xây dựng bản quy phạm cụ thể phù hợp với tình hình địa phương, trình Ủy ban nhân dân tỉnh xét duyệt cho ban hành; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan Công an, Tòa án, Viện kiểm soát và các cơ quan khác cùng cấp có liên quan để tổ chức chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện bản quy phạm này, xử lý nghiêm minh theo pháp luật những cá nhân và tổ chức gây cháy rừng, khen thưởng kịp thời những người và những đơn vị có nhiều thành tích trong việc phòng chữa cháy rừng.
Điều 49. Nếu để rừng bị cháy do không thực hiện đầy đủ các điều quy định trong phạm vi này thì:
Điều 50. Cục kiểm lâm nhân dân, Vụ kỹ thuật, Vụ công nghiệp rừng, Vụ lâm nghiệp, Ban thanh tra có trách nhiệm giúp Bộ tổ chức phổ biến hướng dẫn đôn đốc, kiểm tra việc chấp hành quy phạm này, đồng thời rút kinh nghiệm đề nghị Bộ bổ sung quy phạm cho hoàn chỉnh.
Điều 51. Về kinh phí xây dựng các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng.
Điều 52. Những quy định trước đây trái với nội dung quy định trong Quy phạm này đều bãi bỏ.
Phụ lục  — Trong quá trình nghiên cứu, chỉ đạo xây dựng mô hình về phòng cháy, chữa cháy rừng ở 3 tỉnh: Quảng Ninh, Lâm Đồng, Minh Hải. Cục kiểm lâm nhân dân đã rút ra được một số kết quả về:

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.