Sắc lệnh · Chủ tịch nước
Sắc lệnh 87/SL
Về việc ban hành bản điều lệ tạm thời sử dụng công điền công thổ
- Tình trạng
- Hết hiệu lực toàn bộ
- Ngày ban hành
- 05/03/1952
- Ngày có hiệu lực
- 03/05/1952
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bố cục (26 điều)
Điều 1. Để việc sử dụng công điền công thổ được hợp lý và thống nhất, nay ban hành "Bản điều lệ tạm thời sử dụng công điền công thổ" kèm theo sắc lệnh này. Điều 2. Những thể lệ từ trước đến nay về việc sử dụng công điền công thổ, trái với "Bản điều lệ tạm thời" này đều bãi bỏ. Điều 3. Các ông Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Canh nông chiểu sắc lệnh thi hành. Điều 1. Việc sử dụng công điền công thổ từ nay về sau sẽ chia cho dân theo ba nguyên tắc chính: Điều 2. Công điền công thổ sẽ chia cho toàn thể nhân dân nam nữ từ 16 tuổi trở lên, trừ Việt gian đã thành án. Điều 3. Người đến ngụ cư mà tự nguyện trực tiếp cày cấy và nếu được nhân dân thoả thuận cũng được chia. Điều 4. Công điền công thổ của thôn sẽ chia cho dân trong thôn. Chỉ ở nơi nào có điều kiện thuận tiện (như có nhiều ruộng và số ruộng các thôn gần bằng nhau...) và nhân dân thoả thuận thì có thể tập trung lên xã mà chia. Điều 5. Diện tích chia cho mỗi người không được quá mức 5000 thước vuông (nửa mẫu tây, 1/2 ha). Điều 6. Nếu công điền công thổ ít quá không bõ chia cho mọi người thì chỉ chia cho các thương binh, bệnh binh, vệ quốc quân, bộ đội địa phương và gia đình tử sĩ, hoặc đem giao cho quỹ để cho dân cày nghèo lĩnh canh nộp tô nhẹ. Điều 7. Các thương binh, bệnh binh, vệ quốc quân, bộ đội địa phương và gia đình tử sĩ được ưu đãi: được nhận phần ruộng tốt hơn hay nhiều hơn những phần ruộng khác. Về nguyên tắc, nên chia cho thương binh, bệnh binh nghèo một số ruộng đất đủ để sinh sống, theo điều kiện địa phương. Điều 8. Về nguyên tắc, công điền công thổ phải chia cả cho dân, nhưng nếu xét cần thiết, có thể trích ra sung vào quỹ xã nhiều nhất không quá 20% diện tích. Việc này do Hội đồng nhân dân xã đề nghị và UBKCHC tỉnh duyệt y. Số ruộng trích đó sẽ đem cho dân nghèo lĩnh canh nộp tô nhẹ vào quỹ xã. Điều 9. Thời hạn chia công điền công thổ sẽ tuỳ theo hoàn cảnh từng địa phương mà định từ 3 đến 5 năm một lần (chia cấp lớn). Những nơi có nhiều công điền công thổ sẽ trích một số công điền công thổ để hàng năm chia cho những người đến tuổi (chia cấp nhỏ). Số công điền công thổ trích ra mà chưa chia sẽ chia cho dân cày nghèo lĩnh canh nộp tô nhẹ vào quỹ xã. Điều 10. Người được lãnh: Điều 11. Ruộng đất thuộc loại bản thôn điền thổ sẽ gộp vào công điền công thổ để chia cho dân như đã quy định ở trên. Điều 12. Những ruộng đất nửa công nửa tư mà nguồn gốc là ruộng đất công (ruộng lộc điền, thái điền, binh điền...) thì nguyên tắc là của công; sau khi điều tra kỹ càng, việc sử dụng theo ý nguyện của toàn dân trong thôn, xã. Điều 13. Những ruộng đất nửa công nửa tư mà nguồn gốc là do dân góp ruộng tư hay góp tiền mua (phe giáp, môn sinh, tự văn, tư vũ...) thì nguyên tắc sử dụng là tôn trọng quyền của người có ruộng và người góp ruộng. Nhưng nếu các loại ruộng nói trên đã tập trung lên xã và đã sử dụng hợp lý thì vẫn để làm của xã. Điều 14. Những công thổ bỏ hoang thì thuộc về Nhà nước. Điều 15. Những công thổ trước kia bỏ hoang mà đã được vỡ hoang sau Cách mạng tháng 8 thì người đã vỡ hoang được hưởng quyền lợi theo như thể lệ khẩn hoang hiện hành. Nơi nào đã tập trung lên xã những đất đã vỡ hoang ấy thì phải xét và trả lại cho người đã có công khai khẩn. Điều 16. Tại mỗi xã có công điền công thổ để chia sẽ thành lập một "Ban phụ trách chia công điền công thổ xã", gồm có: Điều 17. "Ban phụ trách chia công điền công thổ xã" có nhiệm vụ (cùng Nông hội xã) điều tra tình hình công điền công thổ dự thảo nội quy chia, trình HĐND xã xét và trình UBKCHC tỉnh duyệt y rồi thi hành. Điều 18. Không được cầm hoặc bán công điền công thổ. Điều 19. Đối với công điền công thổ đã bị chiếm làm của riêng, nếu có chứng cớ rõ ràng và được UBKCHC tỉnh nhận là đúng và nếu nhân dân muốn lấy lại, thì người đã chiếm ruộng đất đó phải trả lại cho dân. Điều 20. Các loại công điền công thổ tập trung lên xã mà không đem chia cho dân (công điền công thổ trích làm quỹ xã, công điền công thổ vì ít quá không bõ chia) thì không được đem đấu giá cho thuê, mà chỉ để cho dân cày nghèo trong thôn, xã lĩnh canh, nộp tô nhẹ. Điều 21. Đối với công điền công thổ cho lĩnh canh đã được hai năm, thì thôn, xã có quyền lấy về. Điều 22. Thể lệ tạm thời sử dụng công điền công thổ này áp dụng chung cho toàn quốc. Đặc biệt Nam bộ có thể đề nghị thêm với Chính phủ Trung ương những thể lệ riêng cho sát. Điều 23. Điều lệ này áp dụng khi phổ biến về đến địa phương; nếu gặp vụ cày cấy đang làm dở, sẽ thi hành kể từ vụ sau.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.