Quyết định · UB
Quyết định 90/2004/QĐ-UB
Về việc ban hành Điều lệ khu công nghiệp Phố Nối B- ngành Dệt may
- Tình trạng
- Còn hiệu lực
- Ngày ban hành
- 03/11/2004
- Ngày có hiệu lực
- 03/11/2004
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Hướng dẫn thi hành (2)
- 11/2003/QH11 — Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (26/11/2003)
- 36/CP — Về ban hành Quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao (24/04/1997)
Bố cục (69 điều)
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Điều lệ Khu công nghiệp Phố Nối B - Ngành Dệt may. Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký. Điều 3. Các ông: Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Trưởng Ban QL các KCN Hưng Yên, Thủ trưởng các sở, ban, ngành, đơn vị có liên quan, Chủ tịch UBND các huyện Mỹ Hào, Yên Mỹ; Công ty phát triển hạ tầng KCN Dệt - May thuộc Tổng công ty Dệt - May Việt Nam, các tổ chức, cá nhân đầu tư vào khu công nghiệp Phố Nối B - ngành Dệt - May chịu trách nhiệm thi hành quyết định này. Chương I — NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Điều lệ này quy định cụ thể việc quản lý và điều hành Khu công nghiệp Phố Nối B – ngành Dệt may (sau đây gọi là KCN) được Chính phủ cho phép thành lập tại Văn bản số 385/CP-CN ngày 04/4/2003; UBND tỉnh Hưng Yên quyết định thành lập và phê duyệt dự án đầu tư và kinh doanh hạ tầng KCN tại văn bản số 1117/QĐ-UB ngày 13/6/2003 và số 1953/QĐ-UB ngày 06/10/2003. Điều 2. Việc quản lý và điều hành KCN được phân định như sau: Chương II — BAN QUẢN LÝ Điều 3. Ban QL các KCN Hưng Yên là cơ quan quản lý nhà nước đối với KCN có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Điều 4. Ban Quản lý chịu sự quản lý nhà nước của các Bộ,cơ quan ngang Bộ, UBND tỉnh Hưng Yên và thực hiện một số nhiệm vụ về quản lý nhà nước trong KCN theo văn bản ủy quyền của các cơ quan này. Điều 5. Ban quản lý được UBND tỉnh Hưng Yên tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ quy định tại Quy chế khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 24/4/1997 của các Bộ, ngành, Trung ương và UBND tỉnh Hưng Yên, Điều lệ quản lý xây dựng theo quy hoạch KCN và Điều lệ này. Ban Quản lý ban hành các quy định, nội quy, quy trình nghiệp vụ cụ thể áp dụng trong KCN. Chương III — CÔNG TY PHÁT TRIỂN HẠ TẦNG Điều 6. Công ty Phát triển hạ tầng KCN Dệt may Phố Nối, thuộc Tổng công ty Dệt may Việt nam, là chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Điều 7. Công ty phát triển hạ tầng trực tiếp thực hiện hoặc ủy thác cho các công ty khác thực hiện việc duy tu, bảo dưởng, sửa chữa các công trình xây dựng, các công trình cơ sở hạ tầng và nhà xưởng, máy móc, thiết bị khác thuộc vốn đầu tư của công ty trong suốt thời hạn hiệu lực của Giấy phép đầu tư, kể cả thời gian được gia hạn (nếu có). Trong trường hợp Công ty phát triển hạ tầng ủy thác cho các công ty khác thực hiện các công việc nói trên, Công ty Phát triển hạ tầng vẫn phải chịu trách nhiệm về chất lượng, thời hạn hoàn thành trước các doanh nghiệp trong KCN theo thời hạn hợp đồng kinh tế đã ký kết. Điều 8. Trong quá trình hoạt động, Công ty Phát triển hạ tầng phải tuân thủ các quy định của Giấy phép đầu tư, quy định của pháp luật hiện hành, Điều lệ quản lý xây dựng, Quy hoạch KCN, Điều lệ này và các quy định do Ban quản lý ban hành. Chương IV — DOANH NGHIỆP KHU CÔNG NGHIỆP Điều 9. Nhà đầu tư Việt Nam và nước ngoài muốn đầu tư xây dựng doanh nghiệp tại KCN phải đáp ứng các điều kiện quy định tại các văn bản pháp luật hiện hành có liên quan và phải tuân thủ các quy định tại bản Điều lệ này. Điều 10. Các ngành sản xuất các sản phẩm sau đây được đầu tư vào KCN: Điều 11. Nhà đầu tư được thành lập Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp khác trong KCN. Điều 12. Nhà đầu tư nước ngoài được lựa chọn hình thức đầu tư theo Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và phải hoạt động theo quy chế KCN. Điều 13. Nhà đầu tư tự quyết định cách xây dựng doanh nghiệp thành lập tại KCN trên cơ sở: Điều 14. Doanh nghiệp KCN được sử dụng các dịch vụ trong KCN thông qua Hợp đồng kinh tế với Công ty phát triển hạ tầng hoặc Công ty cung cấp dịch vụ. Điều 15. Nhà đầu tư nộp đơn và hồ sơ xin cấp Giấy phép đầu tư, thành lập Doanh nghiệp trong KCN tại Ban quản lý. Điều 16. Thời hạn hoạt động của Doanh nghiệp trong KCN được quy định cụ thể tại Giấy phép đầu tư. Điều 17. Mọi thay đổi về hoạt động của doanh nghiệp trong KCN so với Giấy phép đầu tư phải được cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chấp thuận bằng văn bản trước khi thực hiện. Mọi thay đổi về thành phần, cơ cấu lãnh đạo doanh nghiệp phải báo cáo kịp thời cho Ban Quản lý. Điều 18. Doanh nghiệp trong KCN chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Doanh nghiệp có quyền và nghĩa vụ như quy định tại quy chế KCN. Chương V — SỬ DỤNG ĐẤT VÀ NHÀ XƯỞNG Điều 19. Địa điểm thành lập doanh nghiệp do chủ đầu tư thỏa thuận lựa chọn với Công ty Phát triển hạ tầng với sự giám sát của Ban Quản lý, phù hợp với quy hoạch chi tiết KCN đã được phê duyệt. Điều 20. Sau khi vị trí và diện tích lô đất để xây dựng doanh nghiệp hoặc vị trí và diện tích nhà xưởng tiêu chuẩn đã được lựa chọn như quy định tại Điều 19, Nhà đầu tư ký hợp đồng sơ bộ với Công ty Phát triển hạ tầng và đặt cọc tiền giữ chỗ. Thời hạn hiệu lực, số tiền đặt cọc và các điều khoản khác của hợp đồng sơ bộ do Công ty phát triển hạ tầng và nhà đầu tư thỏa thuận. Điều 21. Sau khi được cấp giấy phép đầu tư, nhà đầu tư ký hợp đồng chính thức với Công ty Phát triển hạ tầng về việc thuê lại đất, thuê hoặc mua nhà xưởng tiêu chuẩn để hình thành doanh nghiệp. Điều 22. Thời hạn thuê đất để xây dựng doanh nghiệp hoặc thuê nhà xưởng tiêu chuẩn ghi trong hợp đồng phù hợp với thời hạn hoạt động ghi trong giấy phép đầu tư. Điều 23. Trường hợp doanh nghiệp được gia hạn hoạt động như quy định tại Điều 16 chương IV thì doanh nghiệp được tiếp tục thuê đất, nhà xưởng tương ứng với thời hạn được gia hạn ghi trong giấy phép đầu tư. Điều 24. Nếu việc xây dựng công tình nhà xưởng đòi hỏi phải phân kỳ sử dụng đất, nhà đầu tư vẫn được thuê một lần toàn bộ diện tích cần thiết để hình thành xí nghiệp, nhưng phải có kế hoạch xây dựng, sử dụng hết lô đất trong thời hạn tối đa là 02 (hai) năm. Doanh nghiệp trong KCN phải gửi kế hoạch phân kỳ sử dụng đất được thuê về Công ty Phát triển hạ tầng, Sở Tài nguyên và Môi trường và Ban Quản lý. Điều 25. Trong thời hạn 10 ngày kể từ khi ký hợp đồng cho thuê đất, bên cho thuê lại đất đăng ký việc cho thuê lại đất tại Sở Tài nguyên và Môi trường theo quy định hiện hành. Điều 26. Việc thẩm định thiết kế xây dựng các công trình trong KCN được thực hiện theo quy định hiện hành của Bộ Xây dựng về việc lập, thẩm định và xét duyệt thiết kế kỹ thuật công trình thuộc các dự án đầu tư vào KCN. Điều 27. Các đường ranh giới giữa các xí nghiệp, giới hạn xây dựng trong từng lô đất, điểm đấu nối công trình kỹ thuật hạ tầng của doanh nghiệp vào hệ thống công trình kỹ thuật hạ tầng chung của toàn KCN do Công ty Phát triển hạ tầng xác định. Điều 28. Khi thiết kế và xây dựng nhà xưởng phải đảm bảo mật độ xây dựng và hệ số sử dụng đất theo các quy định của pháp luật về xây dựng và quy hoạch phát triển KCN đã được phê duyệt. Điều 29. Trong quá trình xây dựng, do nhu cầu thi công, nếu phải phá dỡ toàn bộ hoặc một phần các công trình công cộng (kể cả công trình kỹ thuật hạ tầng, chặt hạ cây, đào vỉa hè…) hoặc cần sử dụng các công trình và các tiện ích công cộng (vỉa hè, điện, nước, đường giao thông…) thì doanh nghiệp phải thỏa thuận trước với Công ty Phát triển hạ tầng về thời gian, giá trị đền bù, phương thức thanh toán, phục hồi nguyên trạng công trình và các điều kiện khác nếu có. Điều 30. Đất đã giao theo hợp đồng thuê lại đất chưa được sử dụng vào mục đích được ghi trong Giấy phép đầu tư, khi có nhu cầu thay đổi mục đích sử dụng, doanh nghiệp phải thỏa thuận lại với Công ty Phát triển hạ tầng, báo cáo với Ban Quản lý và làm lại thủ tục liên quan khác. Điều 31. Nhà xưởng đã thuê hoặc mua chưa được sử dụng vào mục đích được ghi trong Giấy phép đầu tư, khi có nhu cầu thay đổi mục đích sử dụng, doanh nghiệp phải thỏa thuận lại với Công ty Phát triển hạ tầng và phải báo cáo Ban Quản lý và làm lại thủ tục liên quan khác. Điều 32. Trong thời hạn còn hiệu lực của Giấy phép đầu tư, sau khi được cơ quan cấp Giấy phép đầu tư chấp thuận, Doanh nghiệp có thể chuyển nhượng tài sản của mình xây dựng trên đất thuê hoặc tài sản của mình xây dựng trên đất thuê hoặc tài sản lắp đặt trong nhà xưởng thuê hoặc mua của Công ty Phát triển hạ tầng cho nhà đầu tư khác, phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam. Bên được chuyển nhượng có quyền và trách nhiệm tiếp tục thực hiện các hợp đồng mà bên chuyển nhượng đã ký kết với Công ty Phát triển hạ tầng. Chương VI — CÁC VẤN ĐỀ TÀI CHÍNH – KẾ TOÁN VÀ NGOẠI HỐI Điều 33. Các doanh nghiệp trong KCN có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định hiện hành và chịu sự kiểm tra tài chính của cơ quan tài chính Việt Nam. Người lao động trong KCN phải nộp thếu thu nhập theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao. Điều 34. Các doanh nghiệp trong KCN có thể áp dụng chế độ kế toán thống kê hiện hành của Việt Nam hoặc áp dụng chế độ kế toán thống kê khác theo quy tắc và tiêu chuẩn quốc tế phổ biến được Bộ Tài chính và Tổng cục Thống kê chấp thuận và chịu sự kiểm tra của các cơ quan tài chính và thống kê Việt Nam. Điều 35. Đơn vị tiền tệ trong ghi chép kế toán về giá trị là đồng Việt Nam hoặc có thể sử dụng một đơn vị tiền tệ nước ngoài do doanh nghiệp đề nghị và được Bộ Tài chính chấp thuận. Điều 36. Các doanh nghiệp trong KCN nộp thuế, nộp các loại phí, lệ phí bằng tiền Việt Nam hoặc bằng một đồng tiền nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận. Trong trường hợp nộp bằng tiền nước ngoài thì quy đổi ra đơn vị tiền tệ đã chọn theo tỷ giá mua vào do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm nộp. Điều 37. Niên độ kế toán tính theo năm dương lịch từ ngày 01 thán 01 đến hết ngày 31 tháng 12. Riêng năm tài chính đầu tiên được tính từ ngà cấp Giấy phép đầu tư đến ngà 31 tháng 12 của năm trước đó. Quý tính từ ngày 01 tháng đầu của quý đến hết ngày cuối cùng của tháng cuối quý. Tháng tính từ ngày 01 đến ngày cuối cùng của tháng. Điều 38. Các doanh nghiệp trong KCN phải lập báo cáo kế toán theo đúng chế độ báo cáo kế toán đã đăng ký và được chấp thuận. Điều 39. các doanh nghiệp trong KCN phải thực hiện kiểm kê tài sản khi kết thúc niên độ kế toán để xác định số thực về tài sản, vật tư, hàng hóa, tiền mặt, tiền gửi… của doanh nghiệp. Các tài liệu kế toán (sổ sách, chứng từ, báo cáo kế toán và các tài liệu khác có liên quan đến kế toán) phải được lưu trữ, bảo quản theo quy định của Bộ Tài chính Việt Nam. Điều 40. Các hoạt động giao dịch và thanh toán bằng ngoại tệ trong KCN được thực hiện theo quy định của Nhà nước Việt Nam về quản lý ngoại hối. Chương VII — LAO ĐỘNG TRONG KHU CÔNG NGHIỆP Điều 41. Theo ủy quyền của Bộ Lao động – Thương bình và Xã hội, Ban Quản lý theo dõi kiểm tra, đôn đốc các doanh nghiệp trong KCN thực hiện các chính sách, chế độ về lao động đối với người lao động làm việc tại KCN theo quy định của pháp luật về lao động. Điều 42. Doanh nghiệp trong KCN ưu tiên sử dụng lao động người Việt Nam. Đối với những loại công việc mà lao động Việt Nam chưa đáp ứng được thì doanh nghiệp được phép sử dụng lao động người nước ngoài trong thời hạn nhất định. Trong thời hạn đó, doanh nghiệp phải có kế hoạch đào tạo lao động người Việt Nam làm được công việc đó để thay thế. Điều 43. Sau khi được cấp giấy phép đầu tư, doanh nghiệp trong KCN lập và chuyển đến Ban Quản lý kế hoạch về nhu cầu lao động, kế hoạch và yêu cầu tuyển dụng, kế hoạch đào tạo, huấn luyện, kể cả gửi đi đào tạo huấn luyện ở nước ngoài (nếu có). Điều 44. Việc tuyển dụng người lao động Việt Nam vào làm việc tại các doanh nghiệp trong KCN được thực hiện theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về lao động. Người lao động Việt Nam được doanh nghiệp trong KCN tuyển vào làm việc phải nộp hồ sơ đăng ký tại Ban Quản lý. Điều 45. Trong trường hợp sáp nhập, phân chia doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc chuyển quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp thì chủ sở hữu mới hoặc người sử dụng lao động kế tiếp phải có trách nhiệm thực hiện thỏa ước lao động tập thể và các hợp đồng lao động đã ký kết cho tới khi các bên thỏa thuận sửa đổi, chấm dứt hoặc ký kết hợp đồng mới. Chương VIII — BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Điều 46. Công ty Phát triển hạ tầng cung cấp dịch vụ xử lý nước thải cho doanh nghiệp trong KCN thông qua Hợp đồng kinh tế, trong đó ghi rõ lượng nước thải, thông số hóa lý của nước thải của doanh nghiệp trong KCN phù hợp với công suất và khả năng xử lý của nhà máy xử lý nước thải do Công ty Phát triển hạ tầng vận hành. Điều 47. Trường hợp Công ty Phát triển hạ tầng yêu cầu và được quy định trong hợp đồng cho thuê lại đất, doanh nghiệp KCN phải xử lý sơ bộ nước thải đạt tiêu chuẩn quy định trước khi xả vào hệ thống nước thải chung của KCN do Công ty Phát triển hạ tầng vận hành. Công ty Phát triển hạ tầng chịu trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát chất lượng nước thải từ các doanh nghiệp KCN xả vào hệ thống nước thải chung theo đúng hợp đồng đã ký kết. Điều 48. Nước thải từ KCN trước khi đưa ra ngoài phải đảm bảo đạt độ sạch theo các tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường của Nhà nước Việt nam. Trường hợp nước thải từ KCN chưa được xử lý đúng mức, gây ô nhiễm môi trường quá giới hạn cho phép thì Công ty Phát triển hạ tầng phải bồi thường cho thiệt hại và phải có biện pháp khắc phục theo quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường. Điều 49. Doanh nghiệp trong KCN tự mình xử lý khí thải và bụi công nghiệp đảm bảo đạt các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường do Nhà nước Việt Nam quy định và chịu trách nhiệm về những thiệt hại do khí htair làm ô nhiễm gây ra. Điều 50. Việc xử lý các chất thải rắn, không có giá trị thương mại do các doanh nghiệp thực hiện, thông qua hợp đồng kinh tế ký với từng doanh nghiệp dịch vụ KCN. Chương IX — AN NINH – AN TOÀN – TRẬT TỰ CÔNG CỘNG Điều 51. Doanh nghiệp được quyền quy định cụ thể chế độ kiểm tra, quản lý đối với hàng hóa, phương tiện, người làm việc trong biên chế, đối với khách hàng, khách thăm của doanh nghiệp nhằm đảm bảo an toàn, bí mật công nghệ và quản lý của doanh nghiệp. Điều 52. Doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm về tổ chức phòng và chống cháy, nổ tại cơ sở của mình và tuân thủ mọi quy định của nhà nước Việt Nam về phòng, chống cháy nổ. Điều 53. Hệ thống đường giao thông trong KCN phải được phân tuyến, phân làn, được trang bị biển báo và hiệu lệnh giao thông phù hợp với Luật an toàn giao thông của Việt Nam. Điều 54. Các doanh nghiệp trong KCN phải thực hiện nghiêm chỉnh các quy định, Lệnh của Ban chỉ huy phòng chống lụt bão của địa phương. Chương X — XỬ LÝ TRANH CHẤP VÀ CHẾ TÀI Điều 55. Các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện hợp đồng kinh tế trước hết phải được giải quyết thông qua thương lượng và hòa giải giữa các bên có liên quan. Trong trường hợp không hòa giải được, các bên đưa vụ việc tranh chấp ra trọng tài hoặc tòa án mà các bên đã thỏa thuận khi ký kết hợp đồng. Điều 56. Các tranh chấp về quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động phải được giải quyết trước hết thông qua thương lượng giữa công đoàn hoặc đại diện tập thể lao động với chủ doanh nghiệp, có sự chứng kiên, tham gia của cơ quan công đoàn cấp trên của doanh nghiệp. Điều 57. Các vụ án hình sự xảy ra trong KCN thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án Việt Nam. Chương XI — MỘT SỐ QUY ĐỊNH RIÊNG ÁP DỤNG CHO DOANH NGHIỆP CHẾ XUẤT TRONG KHU CÔNG NGHIỆP Điều 58. Điều 59. Hàng hóa của doanh nghiệp chế xuấ, không bao gồm sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, bán vào thị trường nội địa hoặc mua từ thị trường nội địa, bao gồm cả doanh nghiệp KCN trong cùng một KCN, được coi như hàng hóa do Việt Nam nập khẩu từ nước ngoài hoặc xuất khẩu ra nước ngoài và phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam về xuất, nhập khẩu nhưng được miễn thủ tục xét duyệt kế hoạch xuất nhập khẩu. Điều 60. Đối với hàng hóa là sản phẩm do doanh nghiệp chế xuất sản xuất ra, kể cả phế liệu, phế phẩm còn giá trị thương mại, khi bán vào thị trường nội địa, được coi như hàng hóa nhập khẩu, phải có văn bản phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền, hợp đồng mua bán với tổ chức được phép kinh doanh và phải nộp thuế như hàng hóa nhập khẩu. Điều 61. Hàng hóa, máy móc, thiết bị của doanh nghiệp chế xuất nếu cần được sửa chữa, trắc nghiệm, hiệu chỉnh, kiểm nghiệm mà không thể thực hiện tại doanh nghiệp, Ban Quản lý có thể cho phép chuyển ra ngoài doanh nghiệp trên cơ sở doanh nghiệp cam kết đưa trở về doanh nghiệp trong thời hạn do Ban Quản lý quy định. Trong trường hợp này, doanh nghiệp phải làm thủ tục kiểm hóa, tạm miễn nộp thuế và đăng ký vào sổ của Hải quan KCN. Điều 62. Điều 63. Đối với sản phẩm phải đem vào nội địa gia công, doanh nghiệp chế xuất có thể đưa khuôn mẫu, công cụ, máy móc thử nghiệm sẵn có của mình cho các đơn vị nhân gia công sử dụng sau khi được chấp thuận của Ban Quản lý và phải chuyển trở về doanh nghiệp khi kết thúc hợp đồng. Điều 64. Doanh nghiệp chế xuất được phép nhận gia công của các doanh nghiệp Việt Nam và nếu có cung ứng thêm một phần nguyên phụ liệu thì khi trả sản phẩm gia công doanh nghiệp Việt Nam phải nộp thuế nhập khẩu đối với phần nguyên phụ liệu cung ứng thêm. Việc nhận cung ứng thêm nguyên phụ liệu phải thể hiện trong hợp đồng gia công. Điều 65. Hàng hóa vận chuyển giữa doanh nghiệp chế xuất với các doanh nghiệp chế xuất khác trong cùng KCN; hoặc với doanh nghiệp chế xuất ở KCN khác, khu chế xuất khác được thực hiện theo phương thức Công ten nơ (container), thùng và kiện hàng niêm phong hải quan, có nhân viên hải quan áp tải và được miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Chương XII — ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 66. Trong quá trình thực hiện nếu cần phải bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế, Ban Quản lý, Công ty Phát triển hạ tầng phối hợp với các sở, ngành liên quan đề xuất, báo cáo UBND tỉnh quyết định.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.