Văn bản · BD

Văn bản 194-DN-BD

Ban hành quy chế đào tạo và bồi dưỡng nghề trong sản xuất

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
21/08/1985
Ngày có hiệu lực
21/08/1985
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bố cục (28 điều)

Điều 1. - Nay ban hành kèm theo Quyết định này bản "Quy chế đào tạo và bồi dưỡng nghề trong sản xuất".
Điều 2. - Các đồng chí Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng (có quản lý công tác đào tạo và bồi dưỡng nghề ở các cơ sở sản xuất), các đồng Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố và đặc khu trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Điều 1. - Đào tạo và bồi dưỡng nghề trong sản xuất có nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng công nhân, nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ (dưới đây gọi tắt là công nhân), nhằm bổ sung lực lượng lao động có kỹ thuật, nghiệp vụ và không ngừng nâng cao trình độ nghề nghiệp cho công nhân đang sản xuất, để đáp ứng yêu cầu sản xuất và phát triển kinh tế khoa học và kỹ thuật, cụ thể là:
Điều 2. - Đào tạo và bồi dưỡng nghề trong sản xuất phải tiến hành theo kế hoạch giảng dạy và chương trình môn học, được ban hành theo quy định ở Điều 22, 23 của Quy chế này.
Điều 3. - Các nghề đào tạo mới trong sản xuất chủ yếu là các nghề trong dây chuyền công nghệ, nghề đơn giản, nghề hẹp...
Điều 4. - Thời gian đào tạo mới trong sản xuất tối đa không quá 12 tháng.
Điều 5. - Đào tạo mới trong sản xuất được tổ chức thành lớp, mỗi lớp không quá 30 học viên. Trường hợp chỉ cần đào tạo dưới 5 học viên thì được phép kèm cặp cá nhân theo hợp đồng đào tạo.
Điều 6. - Đào tạo lại, đào tạo nghề thứ hai, được áp dụng như đào tạo mới về kế hoạch giảng dạy, chương trình môn học, thời gian và tổ chức đào tạo như Điều 2, 4, 5 đã quy định.
Điều 7. - Sau khi hoàn thành chương trình học tập phải tổ chức kiểm tra cuối khoá cho tất cả học viên đào tạo mới, đào tạo lại và đào tạo nghề thứ 2.
Điều 8. - Bồi dưỡng nghề trong sản xuất được tiến hành chủ yếu ngoài giờ sản xuất. Trường hợp được giao chỉ tiêu bồi dưỡng tập trung thì được phép tổ chức học tập trong giờ sản xuất, thời gian bồi dưỡng tập trung không quá 6 tháng.
Điều 9. - Bồi dưỡng công nhân đạt trình độ lành nghề, dành cho những công nhân chưa lành nghề (có trình độ cấp 1 về nghề nghiệp), có cùng nghề hay cùng nhóm nghề.
Điều 10. - Bồi dưỡng công nhân lành nghề bậc cao, dành cho những công nhân lành nghề, có cùng nghề hay cùng nhóm nghề.
Điều 11. - Bồi dưỡng các chuyên đề được tổ chức cho những công nhân có liên quan đến từng chuyên đề đó.
Điều 12. - Bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý cho tổ trưởng sản xuất dành cho những công nhân đang làm tổ trưởng, tổ phó sản xuất và những công nhân lành nghề bậc cao.
Điều 13. - Học viên có nhiệm vụ:
Điều 14. - Học viên có quyền lợi:
Điều 15. - Những học viên không hoàn thành nhiệm vụ học tập, vi phạm nội quy, kỷ luật lớp học, nơi thực tập, thì tuỳ theo mức độ khuyết điểm mà xét kỷ luật.
Điều 16. - Những học viên sau khi dự thi hoặc kiểm tra cuối khoá đạt yêu cầu thì được hưởng quyền lợi:
Điều 17. - Các giáo viên đào tạo và bồi dưỡng nghề trong sản xuất có thể là chuyên trách hoặc kiêm chức nhưng phải là người có kinh nghiệm trong sản xuất, công tác, có tư cách đạo đức tốt, có khả năng giảng dạy, hướng dẫn. Các giáo viên gồm có giáo viên dạy lý thuyết, giáo viên dạy thực hành. - Giáo viên dạy thực hành là những cán bộ, công nhân lành nghề bậc cao; nhân viên kỹ thuật, nghiệp vụ, giáo viên dạy nghề.
Điều 18. - Giáo viên có nhiệm vụ:
Điều 19. - Giáo viên có quyền lợi:
Điều 20. - Cơ sở vật chất dùng cho công tác đào tạo và bồi dưỡng nghề trong sản xuất bao gồm:
Điều 21. - Kinh phí dùng cho công tác đào tạo và bồi dưỡng nghề trong sản xuất chủ yếu là:
Điều 22. - Tổng cục Dạy nghề chỉ đạo và quản lý thống nhất công tác đào tạo và bồi dưỡng nghề trong sản xuất, đối với các Bộ, các Ngành, các địa phương trong cả nước; cụ thể là:
Điều 23. - Các Bộ, ngành, các địa phương có nhiệm vụ quản lý trực tiếp công tác đào tạo và bồi dưỡng nghề của các cơ sở sản xuất; cụ thể là:
Điều 24. - Các cơ sở sản xuất có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác đào tạo và bồi dưỡng nghề ở cơ sở mình; cụ thể là:
Điều 25. - Quy chế này có hiệu lực kể từ ngày ký. Trên cơ sở Quy chế này, các Bộ, các ngành, các địa phương, cần có quy định cụ thể để áp dụng thống nhất cho Bộ, ngành, địa phương mình.
Điều 26. - Vụ trưởng Vụ Dạy nghề và bồi dưỡng nghề có trách nhiệm giúp Tổng cục trưởng Tổng cục Dạy nghề hướng dẫn các Bộ, Ngành, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương, các tổ chức phụ trách dạy nghề và bồi dưỡng nghề thực hiện Quy chế này.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.