Quyết định

Quyết định Quyết định 21/2003/QĐ-BNV của Bộ Nội vụ

về việc phê duyệt bản Điều lệ của Hội Vật lý Việt Nam

Tình trạng
Còn hiệu lực
Ngày ban hành
14/05/2003
Ngày có hiệu lực
—
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bố cục (29 điều)

Điều 1. Phê duyệt bản Điều lệ của Hội Vật lý Việt Nam đã được Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V ngày 28 tháng 6 năm 2002 thông qua.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.
Điều 3. Chủ tịch Hội Vật lý Việt Nam, Vụ trưởng Vụ Tổ chức phi chính phủ chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
Điều 1. Hội lấy tên là Hội Vật lý Việt Nam
Điều 2. Hội Vật lý Việt Nam là tổ chức xã hội, nghề nghiệp tự nguyên của những công dân Việt Nam, tổ chức hoạt động trên lĩnh vực nghiên cứu, giảng dạy, ứng dụng và phổ biến kiến thức về vật lý.
Điều 3. Mục đích hoạt động của Hội Vật lý Việt Nam:
Điều 4. Hội Vật lý Việt Nam tổ chức, hoạt động trên phạm vi cả nước, đặt trụ sở tại Hà Nội. Hội có tư các pháp nhân, con dấu, biểu tượng, cơ quan ngôn luận và tài khoản riêng theo quy định của pháp luật.
Điều 5. Nhiệm vụ của Hội
Điều 6. Quyền của Hội:
Điều 7. Hội viên Hội Vật lý Việt Nam:
Điều 8. Nhiệm vụ của Hội viên:
Điều 9. Quyền của Hội viên:
Điều 10. Tổ chức và hoạt động của Hội theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tự nguyện, tự quản và tự trang trải kinh phí. Tổ chức của Hội bao gồm:
Điều 11. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Hội Vật lý Việt Nam là Đại hội Đại biểu toàn quốc, được tổ chức 5 năm một lần. Khi cần thiết, Ban chấp hành có thể triệu tập Đại hội bất thường, đại hội bất thường được triệu tập khi ít nhất có 2/3 tổng số ủy viên Ban chấp hành hoặc ít nhất có 1/2 tổng số hội viên chính thức đề nghị. Thành phần, số lượng dự Đại biểu do Ban chấp hành đương nhiệm của Trung ương Hội Quy định.
Điều 12. Ban Chấp hành trung ương Hội là cơ quan lãnh đạo giữa hai nhiệm kỳ đại hội. Số lượng ủy viên Ban Chấp hành trung ương Hội do Đại hội ấn định và trực tiếp bầu. Trong thời gian giữa hai kỳ Đại hội, nếu xét thấy cần thiết Ban Chấp hành có thể bầu bổ sung các ủy viên Ban Chấp hành, với số lượng trong toàn khóa không vượt quá 20% số ủy viên Ban Chấp hành do Đại hội bầu ra.
Điều 13. Cơ quan thường trực của Ban Chấp hành Trung ương Hội là Ban Thường vụ, gồm có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch, Tổng thư ký và một số ủy viên, số lượng Ban Thường vụ không quá 1/3 tổng số ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Hội.
Điều 14. Chủ tịch Hội do Ban Chấp hành Trung ương bầu ra trong số các ủy viên thường vụ, chủ trì các cuộc họp của Ban Chấp hành Trung ương Hội và Ban Thường vụ Hội, điều hành và triển khai các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Hội và Ban Thường vụ, chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của Hội.
Điều 15. Phó Chủ tịch do Ban Chấp hành Trung ương Hội bầu ra, được Chủ tịch Hội phân công lãnh đạo từng mặt hoạt động của Hội.
Điều 16. Tổng thư ký do Ban Chấp hành Trung ương Hội bầu ra, thường trực giải quyết các công việc của Hội do Chủ tịch phân công và điều hành mọi hoạt động của Văn phòng Trung ương Hội.
Điều 17. Khi cần thiết theo đề nghị của Tổng thư ký Hội, Ban thường vụ Hội có thể xem xét quyết định thành lập các Tiểu ban chuyên môn, các tổ chức phục vụ cho công tác phát triển Hội. Việc thành lập theo quy định của pháp luật.
Điều 18. Ban kiểm tra:
Điều 19. Nguồn thu của Hội:
Điều 20. Tài chính của Hội được quản lý theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương Hội trên cơ sở tuân thủ các chế độ chính sách tài chính - kế toán của Nhà nước. Tiền nhàn rỗi của Hội (nếu có), kể cả ngoại tệ được phép gửi tiết kiệm nhằm tăng thêm cho quỹ Hội.
Điều 21. Khi Hội hoặc tổ chức của Hội giải thể, phải kiểm kê tài sản, quĩ của Hội hoặc tổ chức, báo cáo Ban Chấp hành Trung ương Hội. Việc giải thể thực hiện theo qui định của Pháp luật.
Điều 22. Tổ chức, Hội viên có nhiều thành tích được Hội khen thưởng hoặc đề nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền khen thưởng.
Điều 23. Tổ chức, hội viên làm tổn hại đến uy tín, thanh danh của Hội, làm trái với Điều lệ, Nghị quyết của Hội thì bị kỷ luật từ khiển trách, cảnh cáo đến khai trừ. Trường hợp có gây thiệt hại về vật chất, ngoài hình thức kỷ luật còn phải bồi thường theo Pháp luật.
Điều 24. Các tổ chức thành viên, cá nhân của Hội trong 1 năm không nộp Hội phí hoặc không sinh hoạt 3 kì liên tiếp không có lý do, thì bị xóa tên trong danh sách Hội viên.
Điều 25. Điều lệ này gồm 7 chương, 26 điều, đã được Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Vật lý Việt Nam thông qua ngày 28 tháng 6 năm 2002 và có hiệu lực kể từ ngày được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Điều 26. Chỉ có Đại hội Đại biểu toàn quốc của Hội mới có quyền bổ sung và sửa đổi Điều lệ./.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.