Văn bản
Văn bản Số hiệu: 175-CP/0d08b84c
- Tình trạng
- Hết hiệu lực toàn bộ
- Ngày ban hành
- —
- Ngày có hiệu lực
- 26/12/1964
- Hết hiệu lực
- 12/08/1996
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)
Được hướng dẫn bởi (1)
Bố cục (15 điều)
Điều 1. Vũ khí quân dụng và vũ khí thể thao quốc phòng nói trong Nghị định này bao gồm các loại dưới đây: Điều 2. Vũ khí quân dụng và vũ khí thể thao quốc phòng là của Nhà nước và do Nhà nước phân phối, trang bị cho các lực lượng vũ trang, các đội bắn súng thể thao quốc phòng và các cơ quan Nhà nước để chiến đấu bảo vệ trị an, luyện tập và thi đấu. Điều 3. Chỉ có các cơ quan được Hội đồng Chính phủ uỷ nhiệm mới có quyền mua, bán, tàng trữ các loại vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao quốc phòng. Điều 4. Ngoài các công binh xưởng, các cơ sở sản xuất và sửa chữa vũ khí của các lực lượng vũ trang, những cơ sở sản xuất hay sửa chữa vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao quốc phòng khác đều phải có giấy phép do Bộ Công an cấp. Điều 5. Vũ khí quân dụng trang bị cho các lực lượng vũ trang (bộ đội chủ lực, công an nhân dân vũ trang, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ) do Bộ Quốc phòng phân phối và quản lý. Bộ Quốc phòng quy định các chế độ về sản xuất, sửa chữa, sử dụng, bảo quản, vận chuyển, tàng trữ các loại vũ khí đó. Điều 6. Vũ khí quân dụng trang bị cho các lực lượng công an nhân dân, hải quan và lực lượng bảo vệ chuyên nghiệp của các cơ quan, xí nghiệp để sử dụng trong công tác bảo vệ, do Bộ Công an phân phối và cơ quan Công an từ cấp tỉnh trở lên quản lý và cấp giấy phép sử dụng. Điều 7. Vũ khí thể thao quốc phòng trang bị cho các đội bắn súng thể thao quốc phòng của các cơ quan, xí nghiệp, các thôn, xã, khu phố... để luyện tập và thi đấu thể thao quốc phòng, hoặc khi cần có thể dùng vào công tác bảo vệ trị an, do Ban thể dục thể thao từ cấp tỉnh trở lên phân phối và do cơ quan Công an từ cấp tỉnh trở lên cấp giấy phép sử dụng; Bộ Công an cùng với Uỷ ban Thể dục thể thao quy định cụ thể việc quản lý các vũ khí này. Điều 8. Giấy phép sử dụng vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao quốc phòng thuộc phạm vi quản lý của cơ quan Công an nói ở điều 6 và điều 7 trên đây chỉ cấp cho cơ quan và tập thể, không cấp cho cá nhân. Điều 9. Các loại vũ khí quân dụng và vũ khí thể thao quốc phòng, thuộc phạm vi quản lý của cơ quan công an, ngoài thì giờ luyện tập và công tác, phải để tập trung tại cơ quan, đơn vị và được bảo quản chặt chẽ . Những người được giữ vũ khí ở nhà riêng sẽ do Bộ Công an quy định. Điều 10. Việc vận chuyển từ tỉnh này sang tỉnh khác các loại vũ khí quân dụng, vũ khí thể thao quốc phòng thuộc phạm vi quản lý của cơ quan công an, phải có giấy phép vận chuyển do cơ quan Công an từ cấp tỉnh trở lên cấp. Điều 11. Các cơ quan, đơn vị được trang bị, sử dụng các loại vũ khí phải chấp hành triệt để chế độ bảo quản, sử dụng, vận chuyển vũ khí do Bộ Quốc phòng quy định nếu là vũ khí thuộc các lực lượng vũ trang, hoặc do liên Bộ Công an và Uỷ ban Thể dục thể thao quy định nếu là vũ khí thuộc hai ngành này quản lý. Điều 12. Những cán bộ, nhân viên dưới đây được quyền kiểm soát giấy phép sử dụng và vận chuyển vũ khí, kể cả vũ khí của các lực lượng vũ trang: Điều 13. Mọi công dân đều có trách nhiệm phát hiện và báo cáo kịp thời những trường hợp mua, bán, sử dụng, sản xuất, sửa chữa, tàng trữ vũ khí trái phép và khi nhặt được vũ khí để rơi, thì phải nộp ngay cho cơ quan Công an hoặc cơ quan quân sự nơi gần nhất. Điều 14. Cá nhân hay tổ chức nào mua, bán, sử dụng, sản xuất, sửa chữa, tàng trữ vũ khí trái phép hoặc sử dụng, bảo quản, vận chuyển vũ khí không theo đúng các quy định của Nhà nước sẽ bị xử lý theo luật lệ hiện hành. Điều 15. Các ông Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an, Chủ nhiệm Uỷ ban Thể dục thể thao có trách nhiệm quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành nghị định này.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.