Văn bản · Chính phủ
Văn bản Số hiệu: 36-CP
Về tổ chức bảo vệ các cơ quan, xí nghiệp Nhà nước
- Tình trạng
- Ngưng hiệu lực
- Ngày ban hành
- 03/02/1975
- Ngày có hiệu lực
- 03/02/1975
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bố cục (18 điều)
Điều 1. - Bảo vệ bí mật của Nhà nước, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, giữ gìn trật tự an ninh trong các cơ quan, xí nghiệp của Nhà nước là nhiệm vụ quan trọng của tập thể cán bộ, công nhân, viên chức, thực hiện dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thủ trưởng cơ quan, xí nghiệp với sự hướng dẫn và kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan Công an cấp tương đương. Điều 2. - Mỗi cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước có nghĩa vụ triệt để tuân theo kỷ luật bảo vệ bí mật Nhà nước, bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, giữ gìn trật tự an ninh nội bộ trong phạm vi mình phụ trách và tham gia công tác bảo vệ chung theo kế hoạch của cơ quan, xí nghiệp. Điều 3. - Thủ trưởng cơ quan, xí nghiệp Nhà nước là người chịu trách nhiệm chính trước Nhà nước và cơ quan quản lý cấp trên về mọi mặt công tác bảo vệ cơ quan, xí nghiệp do mình phụ trách; phải chăm lo giáo dục tinh thần cảnh giác cách mạng, ý thức tổ chức, kỷ luật, ý thức bảo vệ của công cho cán bộ, công nhân, viên chức thuộc quyền mình; tổ chức đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện nghiêm chỉnh các chế độ, thể lệ của Nhà nước về bảo mật, phòng gian, về quản lý và bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, về giữ gìn trật tự an ninh trong cơ quan, xín nghiệp; phải nghiên cứu xây dựng các nội quy bảo vệ, tổ chức và kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện những nội quy đó và chủ động đề ra các kế hoạch, biện pháp cần thiết để tăng cường mọi mặt công tác bảo vệ; kịp thời phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh những hành động làm lộ bí mật Nhà nước, xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, và những hành động có nguy hại đến trật tự an ninh của cơ quan, xí nghiệp. Điều 4. - Các cơ quan Công an có nhiệm vụ hướng dẫn, kiểm tra về tổ chức và công tác bảo vệ; huấn luyện, bồi dưỡng về nghiệp vụ, trang bị phương tiện nghiệp vụ cần thiết và thống nhất chỉ đạo chặt chẽ các lực lượng bảo vệ của các cơ quan, xí nghiệp. Điều 5. - Lực lượng bảo vệ của cơ quan, xí nghiệp là một lực lượng được tổ chức chính thức và hoạt động công khai để giúp Thủ trưởng cơ quan, xí nghiệp nghiên cứu và tổ chức thực hiện trong cơ quan, xí nghiệp các chế độ, thể lệ, nội quy và biện pháp bảo vệ nhằm bảo vệ chặt chẽ bí mật Nhà nước, tài sản xã hội chủ nghĩa và trật tư an ninh của cơ quan, xí nghiệp. Điều 6. - Trong khi làm nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát, lực lượng bảo vệ có quyền hạn : Điều 7. - Tuỳ theo tính chất, tầm quan trọng, quy mô của cơ quan, xí nghiệp và số lượng cán bộ, công nhân, viên chức ở từng nơi, lực lượng bảo vệ ở các cơ quan, xí nghiệp được tổ chức thành phòng bảo vệ, đội bảo vệ, tổ bảo vệ hoặc chỉ có một cán bộ chuyên môn làm công tác bảo vệ, hay kiêm nhiệm công tác bảo vệ. Điều 8. - Tổ chức và biên chế của các phòng, ban và đội, tổ bảo vệ ở các cơ quan, xí nghiệp trực thuộc Trung ương do thủ trưởng ngành sở quan quyết định, sau khi thoả thuận với Bộ trưởng Bộ Công an. Điều 9. - Cán bộ bảo vệ nằm trong tổ chức và biên chế của cơ quan xí nghiệp, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thủ trưởng cơ quan, xí nghiệp và do cơ quan, xí nghiệp đài thọ về mọi mặt kinh phí: tiền lương, phụ cấp, chi phí huấn luyện, trang bị và phương tiện hoạt động. Điều 10. - Cán bộ, chiến sĩ bảo vệ phải là người đảm bảo tin cậy, có lý lịch rõ ràng không có vấn đề chính trị, hình sự, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết, trung thực, dũng cảm, trẻ, khoẻ mạnh, không có dị hình dị dạng; có trình độ văn hoá tương đương lớp 7 phổ thông trở lên, có trình độ chính trị, nghiệp vụ, quân sự cần thiết, có kiến thức về ngành chuyên môn chủ yếu của cơ quan, xí nghiệp mình bảo vệ. Điều 11. - Cán bộ, chiến sĩ bảo vệ được xếp lượng và hưởng các chế độ đại ngộ như cán bộ, nhân viên làm công tác tổ chức ở cơ quan, xí nghiệp. Nếu từ công nhân sản xuất hoặc cán bộ, nhân viên ngành khác chuyển sang thì xếp ngay vào bậc lương tương đương của cán bộ tổ chức hoặc vẫn được giữ mức lượng cũ nếu lương cũ cao hơn mức lương cấp bậc mới. Điều 12. - Ngoài những hình thức khen thưởng chung, cán bộ, chiến sĩ bảo vệ có thành tích xuất xắc còn có thể được khen thưởng theo các hình thức quy định đối với cán bộ, chiến sĩ công an. Việc khen thưởng do Bộ trưởng Bộ Công an quyết định theo đề nghị thống nhất của Thủ trưởng cơ quan công an địa phương và Thủ trưởng cơ quan, xí nghiệp có cán bộ, chiến sĩ được đề nghị khen thưởng. Điều 13. - Đối với một số cơ quan, xí nghiệp đặc biệt quan trọng (như tập trung nhiều bí mật, nhiều tài sản có giá trị lớn, hoặc có nhiều chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ nguy hiểm...) thì do yêu cầu của ngành sở quan, hoặc do đề xuất của ngành Công an, giữa Thủ trưởng ngành sở quan ở Trung ương và Bộ trưởng Bộ Công an sẽ có sự thoả thuận và ngành Công an sẽ biệt phái lực lượng cảnh sát bảo vệ đến trực tiếp bảo vệ những cơ quan, xí nghiệp đó. Điều 14. - Trong khi làm nhiệm vụ biệt phái các cán bộ, chiến sĩ công an, cảnh sát sẽ có tất cả những trách nhiệm và quyền hạn quy định cho lực lượng bảo vệ chuyên trách của cơ quan, xí nghiệp đồng thời còn có những trách nhiệm và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật. Điều 15. - Cán bộ, chiến sĩ công an, cảnh sát bảo vệ biệt phái thì do ngành Công an đài thọ hoàn toàn về lương, phụ cấp, trang bị và phương tiện công tác. Điều 16. - Nghị định này được áp dụng đối với tất cả các cơ quan, xí nghiệp (nhà máy, công trường, nông trường, kho tàng, cửa hàng, bệnh viện, trường học...) của Nhà nước; với các cơ quan của Đảng lao động Việt Nam và của các đoàn thể trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Điều 17. - Bộ trưởng Bộ Công an có trách nhiệm phối hợp với Ban Tổ chức của Chính phủ tiến hành việc hướng dẫn thực hiện, đôn đốc kiểm tra các ngành, các cấp thi hành Nghị định này. Điều 18. - Thông tư số 63-TTg ngày 28-2-1957 về việc thành lập các tổ chức bảo vệ ở các xí nghiệp, công trường, nông trường, kho tàng từ nay sẽ hết hiệu lực thi hành.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.