Văn bản · Chính phủ
Văn bản Số hiệu: 54-CP
Ban hành Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế
- Tình trạng
- Hết hiệu lực toàn bộ
- Ngày ban hành
- 10/03/1975
- Ngày có hiệu lực
- 25/03/1975
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Được hướng dẫn bởi (1)
Bố cục (32 điều)
Điều 1. - Nay ban hành kèm theo nghị định này bản Điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế. Điều 2. - Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, căn cứ vào bản điều lệ này, phối hợp với Uỷ ban Pháp chế và Hội đồng trọng tài kinh tế Nhà nước xây dựng điều lệ cụ thể cho việc ký kết từng loại hợp đồng kinh tế của ngành, trình Chính phủ ban hành. Điều 3. - Bãi bỏ nghị định số 4-TTg ngày 4-1-1960 của Thủ tướng có ban hành điều lệ tạm thời về chế độ hợp đồng kinh tế cũng như các điều quy định trước đây trong các văn bản khác trái với nghị định này và bản điều lệ kèm theo. Điều 4. - Ông Chủ tịch Hội đồng trọng tài kinh tế Nhà nước hướng dẫn, giải thích và quy định chi tiết thi hành bản điều lệ ban hành kèm theo nghị định này. Điều 5. - Các ông Bộ trưởng Phủ Thủ tướng, Chủ tịch Hội đồng trọng tài kinh tế Nhà nước, các ông Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban hành chính các khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này và bản Điều lệ kèm theo. Điều 1. - Hợp đồng kinh tế là công cụ pháp lý của Nhà nước trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Nó góp phần quan trọng trong việc kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân, củng cố chế độ hạch toán kinh tế, tăng cường quản lý kinh tế. Nó làm cho lợi ích của đơn vị kinh tế cơ sở khớp với lợi ích chung của nền kinh tế quốc dân, gắn liền công tác quản lý của Nhà nước với sự tự chịu trách nhiệm của các tổ chức kinh tế cơ sở. Nó xác lập và thắt chặt mối quan hệ hợp tác xã hội chủ nghĩa giữa các bên có liên quan đến việc ký kết hợp đồng kinh tế và thực hiện hợp đồng kinh tế đã ký kết, quy định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm cụ thể của từng bên đối với nhau, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên ký kết, giúp đỡ các bên chuẩn bị kế hoạch, xây dựng kế hoạch một cách vững chắc, thực hiện thắng lợi kế hoạch xây Nhà nước với hiệu quả kinh tế cao nhất. Điều 2. - Ký kết hợp đồng kinh tế là một kỷ luật của Nhà nước. Trong mọi hoạt động kinh tế có liên quan với nhau đều bắt buộc phải ký kết hợp đồng kinh tế. Sau khi có số kiểm tra kế hoạch và khi kế hoạch chính thức của Nhà nước được ban hành, các đơn vị, tổ chức cơ quan nói sau đây (gọi tắt là các đơn vị ký kết) phải ký kết hợp đồng kinh tế: Điều 3. - Sau khi ký kết hợp đồng kinh tế, các bên ký kết có nghĩa vụ hợp tác chặt chẽ, thường xuyên theo dõi giúp đỡ lẫn nhau để thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh các điều đã cam kết. Hết thời hạn có hiệu lực của hợp đồng kinh tế thì các bên ký kết phải thanh lý hợp đồng. Điều 4. - Trách nhiệm ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế là đơn vị ký kết mà thủ trưởng là người đại diện. Điều 5. - Các vụ từ chối, trì hoãn ký kết hợp đồng kinh tế, ký thấp hơn chỉ tiêu pháp lệnh, ký kéo dài kỳ hạn thực hiện hợp đồng kinh tế đã được ký kết, cũng như các vụ tranh chấp trong các trường hợp được miễn ký kết hợp đồng kinh tế đã nói ở điều 2, đều do cơ quan trọng tài kinh tế Nhà nước thuộc các ngành, các cấp xét xử theo bản điều lệ này. Điều 6. - Sau khi có số kiểm tra kế hoạch và khi kế hoạch chính thức được ban hành, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, các Uỷ ban hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm: Điều 7. - Các cơ quan quản lý chức năng các cấp (kế hoạch, vật tư, tài chính, ngân hàng, vật giá...) trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình, phải kịp thời giải quyết các mắc mứu được phát hiện qua khâu ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế. Điều 8. - Căn cứ để ký kết hợp đồng kinh tế là: Điều 9. - Thủ tục ký kết hợp đồng kinh tế được quy định như sau: Điều 10. - Nội dung hợp đồng kinh tế không được in sẵn. Các điều khoản của hợp đồng kinh tế phải được ghi thật rõ ràng, cụ thể, chính xác và không trái với pháp luật của Nhà nước. Điều 11. - Nội dung hợp đồng kinh tế phải bao gồm các điều khoản chủ yếu sau đây: Điều 12. - Chất lượng ghi trong hợp đồng kinh tế bao gồm quy cách, phẩm chất, tiêu chuẩn kinh tế kỹ thuật, bao bì, đóng gói, thời hạn bảo hành của sản phẩm. Chất lượng phải theo tiêu chuẩn của Nhà nước, của ngành, của địa phương. Đối với sản phẩm mới chưa có quy định của Nhà nước, của ngành, của địa phương thì các bên thoả thuận quyết định, đồng thời báo cáo cơ quan quản lý cấp trên để xin ý kiến giải quyết. Điều 13. - Phải chấp hành chế độ giá cả của Nhà nước; nếu chưa có giá quy định thì các bên ký kết được phép tính giá thoả thuận, đồng thời báo cáo cơ quan có thẩm quyền xin duyệt giá. Khi có giá chính thức thì các bên điều chỉnh lại giá và thanh toán với nhau số tiền chênh lệch về giá cả, kể từ ngày có hiệu lực của giá chính thức. Điều 14. - Sản phẩm phải được giao nhận đúng số lượng và đồng bộ, đúng chất lượng, đúng kỳ hạn và lịch giao nhận, đúng địa điểm. Điều 15. - Việc điều chỉnh và hủy bỏ hợp đồng kinh tế được quy định như sau: Điều 16. - Cơ quan quản lý cấp trên của đơn vị ký kết phải thi hành kỷ luật hành chính đối với những người hoặc đơn vị trì hoãn, từ chối ký kết hợp đồng kinh tế sau khi có số kiểm tra của kế hoạch Nhà nước mà không có lý do chính đáng, đồng thời phải bắt buộc những người hoặc đơn vị đó ký hợp đồng kinh tế theo đúng chế độ thể lệ của Nhà nước. Điều 17. - Sau khi có chỉ tiêu chính thức của kế hoạch Nhà nước, mọi việc trì hoãn, từ chối ký kết hợp đồng kinh tế, ký thấp hơn chỉ tiêu pháp lệnh, ký kéo dài kỳ hạn thực hiện chỉ tiêu kế hoạch, không thực hiện hoặc thực hiện không đầu đủ và nghiêm chỉnh hợp đồng kinh tế đã ký kết, đều bị coi là vi phạm chế độ hợp đồng kinh tế. Điều 18. - Khi xảy ra những vụ vi phạm chế độ hợp đồng kinh tế, các bên ký kết phải chủ động gặp nhau bàn bạc giải quyết. Nếu có những vấn đề ngoài quyền hạn giải quyết của mình thì phải kịp thời báo cáo lên cơ quan có thẩm quyền để xin quyết định giải quyết những vấn đề đó. Điều 19. - Tiền phạt hợp đồng kinh tế và tiền bồi thường được giải quyết như sau: Điều 20. - Không được nộp phạt hơp đồng kinh tế và bồi thường thiệt hại bằng cách trừ nợ lẫn nhau. Điều 21. - Thời hạn nộp phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại do cơ quan trọng tài kinh tế xét xử quyết định, tùy theo tình hình cụ thể của vụ xét xử, nhưng dài nhất không quá 30 ngày, kể từ ngày ký quyết định xét xử. Điều 22. - Bên vi phạm được miễn nộp phạt hợp đồng và bồi thường thiệt hại nếu việc vi phạm là do các nguyên nhân sau đây: Điều 23. - Những cá nhân, do thiếu tinh thần trách nhiệm, để gây ra vụ vi phạm, làm thiệt hại đến tài sản Nhà nước, thì tuỳ theo trường hợp nặng nhẹ sẽ bị xử phạt theo một hoặc cả ba hình thức sau đây: Điều 24. - Nếu việc vi phạm hợp đồng kinh tế là do lỗi của một đơn vị thứ ba có quan hệ trực tiếp với bên vi phạm gây nên thì bên vi phạm vẫn phải chịu trách nhiệm trước bên cùng ký kết, sau đó làm khiếu nại về trách nhiệm của đơn vị thứ ba với cơ quan trọng tài kinh tế có thẩm quyền xét xử để được đền bù lại số thiệt hại phải chịu mà không phải do lỗi của mình. Điều 25. - Bản điều lệ này có hiệu lực từ ngày được ban hành. Các quy định trước đây trái với bản điều lệ này đều được bãi bỏ. Điều 26. - Các ông Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng trọng tài kinh tế Nhà nước, Chủ tịch Uỷ ban hành chính khu, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chịu trách nhiệm thi hành bản điều lệ này. Điều 27. - Ông Chủ tịch Hội đồng trọng tài kinh tế Nhà nước có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan quản lý có liên quan để hướng dẫn, giải thích và quy định chi tiết thi hành bản điều lệ này.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.