Văn bản

Văn bản 100/CP

Về kinh doanh bảo hiểm

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
18/12/1993
Ngày có hiệu lực
01/01/1994
Hết hiệu lực
16/08/2001
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bị sửa đổi, bổ sung bởi (1)

Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)

Được hướng dẫn bởi (17)

Hướng dẫn thi hành (1)

Bố cục (33 điều)

Điều 1. - Hoạt động kinh doanh bảo hiểm là việc doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro trên cơ sở người được bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi xảy ra trường hợp thuộc trách nhiệm bảo hiểm.
Điều 2. - Trong Nghị định này các khái niệm dưới đây được hiểu như sau:
Điều 3. - Nghị định này áp dụng đối với doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức môi giới bảo hiểm và đại lý bảo hiểm, không áp dụng đối với bảo hiểm y tế ban hành kèm theo Nghị định số 299-HĐBT ngày 15-8-1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) và bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 43-CP ngày 22-6-1993 của Chính phủ.
Điều 4. - Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người được bảo hiểm.
Điều 5. - Doanh nghiệp bảo hiểm và tổ chức môi giới bảo hiểm muốn tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm, phải được Bộ Tài chính cấp Giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Điều 6. - Doanh nghiệp bảo hiểm có thể tái bảo hiểm cho các doanh nghiệp bảo hiểm khác.
Điều 7. - Các lại nghiệp vụ bảo hiểm được phép kinh doanh theo Nghị định này:
Điều 8.
Điều 9. - Doanh nghiệp bảo hiểm phải ký quỹ tại ngân hàng được phép kinh doanh trên lãnh thổ Việt nam.
Điều 10. - Doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình hoạt động phải luôn đảm bảo khả năng thanh toán và phải lập các khoản dự phòng nghiệp vụ đủ để thực hiện các cam kết với người được bảo hiểm.
Điều 11. - Doanh nghiệp bảo hiểm và tổ chức môi giới bảo hiểm phải trích 5% lãi ròng hàng năm để lập quỹ dự trữ bắt buộc cho đến mức bằng 10% vốn điều lệ, riêng đối với chi nhánh của tổ chức bảo hiểm và môi giới bảo hiểm nước ngoài thì bằng 10% mức vốn pháp định quy định tại Điều 22 của Nghị định này.
Điều 12.
Điều 13. - Công ty liên doanh bảo hiểm, công ty liên doanh môi giới bảo hiểm, chi nhánh của tổ chức bảo hiểm, môi giới bảo hiểm nước ngoài, công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài và công ty môi giới bảo hiểm 100% vốn nước ngoài được quyền chuyển ra nước ngoài:
Điều 15. - Nội dung quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm:
Điều 16. - Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Bộ Tài chính là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và những nhiệm vụ cụ thể quy định tại Nghị định này.
Điều 17. - Điều kiện để được Bộ tài chính xét cấp Giấy chứng nhận đủ tiêu chuẩn và điều kiện hoạt động kinh doanh bảo hiểm (sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận):
Điều 18. - Hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận bao gồm:
Điều 19. - Hoạt động đại lý bảo hiểm phải trên cơ sở hợp đồng đại lý ký kết với doanh nghiệp bảo hiểm. Cá nhân hoạt động đại lý bảo hiểm phải có đủ các điều kiện sau:
Điều 20. - Điều lệ tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm và tổ chức môi giới bảo hiểm gồm những nội dung chính sau đây:
Điều 21.
Điều 22. - Mức vốn pháp định của doanh nghiệp bảo hiểm và tổ chức môi giới bảo hiểm được quy định như sau:
Điều 25. - Năm tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm và tổ chức môi giới bảo hiểm bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 và kết thúc ngày 31 tháng 12 của năm dương lịch. Trường hợp năm tài chính khác với quy định này, phải được Bộ Tài chính chấp thuận.
Điều 26. -Doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành đồng thời hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, phải hạch toán riêng cho từng loại bảo hiểm đó.
Điều 27.
Điều 28. - Trong thời hạn 90 ngày sau khi kết thúc năm tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm và tổ chức môi giới bảo hiểm phải gửi cho Bộ Tài chính các tài liệu sau:
Điều 29. - Bộ Tài chính có thể yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm và tổ chức môi giới bảo hiểm báo cáo tình hình hoạt động hoặc tiến hành kiểm tra vào bất cứ thời điểm nào.
Điều 30. - Trường hợp tình hình tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm diễn biến theo chiều hướng xấu, có nguy cơ không đủ khả năng thanh toán cho người được bảo hiểm, Bộ Tài chính có thể yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm đó phải chấn chỉnh kinh doanh và áp dụng các biện pháp nhằm khôi phục lại tình hình bình thường. Nếu xét thấy không thể khắc phục được tình hình trên, Bộ Tài chính thu hồi giấy chứng nhận của tổ chức đó.
Điều 31. - Trường hợp giải thể hoặc chấm dứt hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm và tổ chức môi giới bảo hiểm phải tiến hành thanh lý ngay.
Điều 32. - Trường hợp giải thể, chấm dứt hoạt động, thanh lý, tách, sáp nhập doanh nghiệp bảo hiểm và tổ chức môi giới bảo hiểm phải báo cáo và chịu sự giám sát của Bộ Tài chính.
Điều 33. - Doanh nghiệp bảo hiểm và tổ chức môi giới bảo hiểm phải chịu sự giám sát và thanh tra của Bộ Tài chính. Việc thanh tra được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh Thanh tra và các quy định khác của pháp luật.
Điều 34.
Điều 35. - Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1994. Các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
Điều 36. - Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn thi hành Nghị định này.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.