Văn bản

Văn bản 101/NH-QĐ

Ban hành thể lệ thanh toán qua ngân hàng

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
30/07/1991
Ngày có hiệu lực
01/10/1991
Hết hiệu lực
21/02/1994
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)

Hướng dẫn thi hành (2)

Bố cục (30 điều)

Điều 1. - Ban hành thể lệ thanh toán qua Ngân hàng, áp dụng cho tất cả các cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế, các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển, các đơn vị thuộc hệ thống Kho bạc Nhà nước.
Điều 2. - Thể lệ thanh toán qua Ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/10/1991.
Điều 3. - Căn cứ thể lệ thanh toán qua Ngân hàng và thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước, các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển, Cục kho bạc Nhà nước có trách nhiệm cụ thể hoá cho thích hợp với hoạt động nghiệp vụ và tổ chức thanh toán trong hệ thống của mình; tổ chức thực hiện và quản lý chặt chẽ, không để xảy ra các vi phạm gây tổn thất tài sản của nhân dân và Nhà nước.
Điều 4. - Thủ trưởng các đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước Trung ương, Giám đốc chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tổng giám đốc (Giám đốc) Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển và Cục trưởng Cục kho bạc Nhà nước trong phạm vi chức năng nhiệm vụ quyền hạn có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Điều 1. Các tổ chức kinh tế, đơn vị dự toán và tư nhân có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước (gọi tắt là chủ tài khoản) thực hiện chi trả cho nhau về tiền hàng, dịch vụ qua tài khoản của mình phải theo những quy định trong thể lệ này.
Điều 2. Để bảo đảm thực hiện chi trả qua Ngân hàng (1) các chủ tài khoản bên trả tiền bắt buộc phải có đủ tiền trên tài khoản; mọi trường hợp tài khoản không đủ tiền để thực hiện thanh toán đều là vi phạm pháp luật và phải bị xử lý.
Điều 3. Ngân hàng phải bảo đảm thanh toán thuận tiện kịp thời chính xác. Ngân hàng có trách nhiệm kiểm tra khả năng trả tiền của chủ tài khoản trước khi thực hiện việc thanh toán; được quyền từ chối thanh toán nếu tài khoản của bên trả tiền không đủ để thực hiện và không chịu liên đới về những hậu quả có thể xảy ra. Nếu do thiếu sót chủ quan của mình trong quá trình thanh toán, gây thiệt hại cho khách hàng Ngân hàng phải bồi thường vật chất.
Điều 4. Thanh toán qua Ngân hàng về tiền hàng, dịch vụ hoặc các nhu cầu chi trả khác được áp dụng các hình thức dưới đây:
Điều 5. Căn cứ các yếu tố và mẫu tờ séc do Ngân hàng Nhà nước Trung ương quy định (xem phụ lục số 1), các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển, Cục Kho bạc Nhà nước phải chọn mẫu séc và đăng ký mẫu séc với Ngân hàng Nhà nước, ký các hợp đồng để in tại Nhà in Ngân hàng và nhượng lại cho khách hàng của mình sử dụng.
Điều 6. Các đơn vị tổ chức và tư nhân mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng và các đơn vị dự toán mở tài khoản tiền gửi tại Kho bạc Nhà nước chỉ được mua séc ở Ngân hàng hoặc Kho bạc nơi mở tài khoản tiền gửi.
Điều 7. Séc chuyển khoản là giấy uỷ nhiệm lập trên mẫu in sẵn đặc biệt của Ngân hàng, do chủ tài khoản phát hành, giao trực tiếp cho đơn vị thụ hưởng, để thanh toán tiền hàng, dịch vụ ngay sau khi nhận được hàng hoá hoặc dịch vụ cung ứng. Séc chuyển khoản chỉ được áp dụng thanh toán trong phạm vi giữa các khách hàng có tài khoản ở cùng một Ngân hàng, hoặc khác Ngân hàng nhưng các Ngân hàng đó có tham gia thanh toán bù trừ trực tiếp với nhau.
Điều 8. Chủ tài khoản chỉ được phát hành séc trong phạm vi: Số dư tiền gửi, số dư của sổ séc định mức đã lưu ký tại Ngân hàng. Chủ tài khoản có trách nhiệm bảo quản các tờ séc (kể cả séc trắng) và sổ séc định mức như bảo quản tiền mặt, mất séc như mất tài sản; phải quản lý sử dụng séc chặt chẽ và chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật về các vi phạm (lường gạt, lợi dụng tham ô v.v...) và về mọi thiệt hại, mọi hậu quả do các vi phạm gây nên.
Điều 9. Séc đã phát hành khi về đến Ngân hàng phục vụ bên mua mà quá số dư thì đơn vị phát hành séc chịu phạt tiền bằng 20% (hai mươi phần trăm) số tiền quá số dư; và chịu phạt chậm trả từ ngày tờ séc đến Ngân hàng bên mua cho đến ngày được thanh toán; khoản tiền phạt chậm trả bằng số tiền trên tờ séc nhân với lãi suất nợ quá hạn của loại cho vay ngắn hạn cùng đối tượng theo chế độ hiện hành của Nhà nước, nhân với số ngày chậm trả, tiền phạt chậm trả được chuyển cho đơn vị thụ hưởng. Tiền phạt séc phát hành quá số dư ghi vào thu nghiệp vụ Ngân hàng. Nếu trong vòng 3 tháng chủ tài khoản để hai (2) tờ séc phát hành quá số dư thì Ngân hàng thu hồi số tờ séc trắng còn lại, buộc chủ tài khoản chuyển sang dùng séc bảo chi, sổ séc định mức, hoặc hình thức thanh toán khác. Thời hạn Ngân hàng đình chỉ sử dụng séc tối thiểu là 3 (ba) tháng, sau đó phải có cam kết không tái phạm của chủ tài khoản thì mới được cho khôi phục lại quyền sử dụng séc chuyển khoản thông thường. Trường hợp phát hành séc quá số dư từ 10 triệu đồng trở lên, hoặc chậm bù đắp số tiền phát hành quá số dư quá 30 ngày, Ngân hàng có thể đề nghị khởi tố theo luật pháp hiện hành.
Điều 10. Đơn vị thụ hưởng séc (bên bán) nhận trực tiếp tờ séc của đơn vị phát hành, phải kiểm tra tính hợp lệ của tờ séc (ghi đầy đủ, chính xác và rõ ràng mọi yếu tố quy định trên tờ séc, không sửa chữa, tẩy xoá) và nộp vào Ngân hàng phục vụ (bên bán hoặc bên mua) trong thời hạn hiệu lực tối đa là 10 (mười) ngày làm việc kể từ ngày phát hành séc.
Điều 11. Séc bảo chi là tờ séc chuyển khoản thông thường nhưng được Ngân hàng phục vụ đơn vị phát hành séc bảo đảm chi trả bằng cách trích trước số tiền ghi trên tờ séc từ tài khoản tiền gửi (hoặc cho vay) của bên trả tiền đưa vào một tài khoản riêng (tiền gửi séc bảo chi và sổ séc định mức), được Ngân hàng làm thủ tục bảo chi và đóng dấu "bảo chi" trên tờ séc trước khi giao cho khách hàng.
Điều 12. Sổ séc định mức (xem phụ lục số 2) được dùng để trả tiền mua hàng, trả cước phí vận tải, cước phí bưu điện có tính thường xuyên, hoặc theo quyết định xử phạt của Ngân hàng.
Điều 13. Uỷ nhiệm chi (phụ lục số 4) là lệnh chi tiền được chủ tài khoản lập theo mẫu của Ngân hàng ấn hành, yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình (nơi mở tài khoản tiền gửi) trích tài khoản của mình để chi trả cho bên thụ hưởng).
Điều 14. Chuyển tiền khác địa phương (2) có thể thực hiện bằng séc chuyển tiền (được giao cầm tay) - phụ lục số 3 - trong trường hợp khách hàng có yêu cầu cần thiết cấp bách. Séc chuyển tiền phải do Ngân hàng phục vụ đơn vị có yêu cầu chuyển tiền phát hành và trao cho khách hàng sau khi đã ghi Nợ vào tài khoản của đơn vị xin chuyển tiền. Thời hạn hiệu lực của tờ séc chuyển tiền là 30 ngày kể từ ngày phát hành séc. Séc chuyển tiền có thể sử dụng để chuyển khoản hoặc lĩnh tiền mặt tại Ngân hàng trả tiền.
Điều 15. Thư tín dụng (phụ lục số 5) được dùng để thanh toán tiền hàng trong điều kiện bên bán đòi hỏi phải bảo đảm có đủ vốn để chi trả ngay và phù hợp với tổng số tiền hàng đã giao theo hợp đồng hoặc đơn đặt hàng đã ký.
Điều 16. Khi có nhu cầu, bên mua lập giấy mở thư tín dụng yêu cầu Ngân hàng phục vụ mình trích tài khoản tiền gửi (hoặc tiền vay Ngân hàng) một số tiền bằng tổng giá trị hàng đặt mua để lưu ký vào một tài khoản riêng (tiền gửi mở thư tín dụng). Ngân hàng bên mua phải gửi ngay thư tín dụng cho Ngân hàng bên bán để báo cho bên bán biết. Mức tiền tối thiểu của một thư tín dụng là 05 (năm) triệu đồng. Tiền gửi thư tín dụng không được hưởng lãi.
Điều 17. Bên bán có trách nhiệm giao hàng cho bên mua sau khi nhận được giấy báo đã mở thư tín dụng.
Điều 18. Hình thức thanh toán bằng uỷ nhiệm thu (phụ lục số 6) được áp dụng trong thanh toán cùng địa phương hoặc khác địa phương trong hệ thống và ngoài hệ thống về những khoản tiền hàng đã giao hoặc dịch vụ đã cung ứng mà 2 bên mua và bán thống nhất thoả thuận dùng hình thức thanh toán này với những điều kiện thanh toán cụ thể đã ghi trong hợp đồng kinh tế hoặc đơn đặt hàng và đã được bên mua ký xác nhận trên các chứng từ thanh toán (hoá đơn, vận đơn v.v...). Bên mua phải thông báo bằng văn bản cho Ngân hàng phục vụ mình biết về thoả thuận dùng hình thức thanh toán uỷ nhiệm thu của đơn vị mình.
Điều 19. Sau khi đã giao hàng hoặc hoàn tất dịch vụ cung ứng, bên bán lập giấy uỷ nhiệm thu theo mẫu của Ngân hàng ấn hành kèm theo hoá đơn, vận đơn gửi tới Ngân hàng phục vụ mình để yêu cầu thu hộ.
Điều 20. Khi nhận được giấy uỷ nhiệm thu, trong vòng một ngày làm việc Ngân hàng bên mua trích tài khoản của bên mua trả ngay cho bên bán để hoàn tất việc thanh toán. Nếu tài khoản bên mua không có tiền chi trả thì bên mua bị phạt chậm trả theo Điều 9 nêu trên.
Điều 21. Căn cứ những quy định trong thể lệ này về các mẫu ấn chỉ của các hình thức thanh toán do Ngân hàng Nhà nước Trung ương quy định, từng Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển, Cục kho bạc Nhà nước được ấn hành các loại ấn chỉ thanh toán, nhượng lại cho khách hàng và cơ sở Ngân hàng trực thuộc sử dụng. Các mẫu ấn chỉ thanh toán này phải được Ngân hàng Nhà nước Trung ương duyệt và đăng ký lưu ở Ngân hàng Nhà nước Trung ương.
Điều 22. Mỗi Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển, Cục kho bạc Nhà nước là một hệ thống, do đó hoạt động về thanh toán, chuyển vốn giữa các chi nhánh, chi cục là hoạt động thanh toán trong nội bộ hệ thống.
Điều 23. Để đảm bảo thanh toán thuận tiện nhanh chóng, các Ngân hàng được lựa chọn áp dụng các phương thức thanh toán sau đây:
Điều 24. Thanh toán giữa các Ngân hàng khác hệ thống được thực hiện theo các phương thức sau đây:
Điều 25. Các Ngân hàng thương mại, Ngân hàng đầu tư và phát triển, Cục kho bạc Nhà nước căn cứ thể lệ thanh toán qua Ngân hàng và thông tư hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước cụ thể hoá nghiệp vụ thanh toán phục vụ khách hàng, hướng dẫn thực hiện dúng.
Điều 26. Thể lệ này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 1991. Việc sửa đổi, bổ sung thể lệ thanh toán qua Ngân hàng thuộc thẩm quyền của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.