Văn bản · HG

Văn bản 103/BNgT-PC-HG

Ban hành bản Quy định về chế độ gửi và nhận hàng phi mậu dịch dưới hình thức quà biếu đối với các gia đình trong nước có người thân định cư ở các nước ngoài hệ thống XHCN

Tình trạng
Còn hiệu lực
Ngày ban hành
03/03/1983
Ngày có hiệu lực
01/04/1983
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bố cục (13 điều)

Điều 1. - Nay ban hành kèm theo quyết định này bản Quy định về chế độ gửi và nhận hàng phi mậu dịch dưới hình thức quà biếu đối với các gia đình trong nước có người thân định cư ở các nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa.
Điều 2. - Bản quy định này thi hành từ ngày 1 tháng 4 năm 1983 và thay thế các quy định trước đây của Bộ Ngoại thương.
Điều 3. - Cục trưởng Cục Hải quan có trách nhiệm hướng dẫn chi tiết thi hành quyết định này.
Chương I — QUY ĐỊNH CHUNG
  Điều 1. - 1. Mỗi hộ gia đình trong nước có người thân định cư ở các nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa được gửi và nhận hàng phi mậu dịch dưới hình thức quà biếu miễn thuế mỗi năm 3 (ba) lần (dưới đây gọi tắt là quà biếu), nếu mỗi lần gửi hoặc nhận không thuộc các mặt hàng cấm xuất khẩu, nhập khẩu (ghi trong phục lục 1 và phụ lục 2 kèm theo quyết định này) và trị giá không quá 1000 (một nghìn) đồng Việt Nam (đối với quà biếu gửi) hoặc 2000 (hai nghìn) đồng Việt Nam (đối với quà biếu nhận) theo giá do Bộ Ngoại thương quy định từng thời gian trên cơ sở giá tính thuế do liên Bộ Ngoại thương - Tài chính ấn định.
  Điều 2. - Trong trường hợp quà biếu gửi và nhận trái với điều 1, quy định như sau:
  Điều 3. - Quà biếu nhận là tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu) theo yêu cầu của các ngành, các địa phương trong nước, được miễn thuế nhập khẩu và không hạn chế về số lần, trị giá, nhưng cơ quan nhận phải đăng ký trước với cơ quan hải quan tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương và người nhận phải bán toàn bộ lô hàng đó cho các ngành, các địa phương có yêu cầu hoặc các tổ chức chuyên doanh của Nhà nước theo giá thu mua do Bộ Ngoại thương quy định.
  Điều 4. - Quà biếu gửi hoặc nhận thuộc loại hàng cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu đều bị tịch thu.
Chương II — THỦ TỤC HẢI QUAN
  Điều 5. - Khi làm thủ tục gửi hoặc nhận quà biếu, chủ gia đình hay người thay mặt phải xuất trình với cơ quan hải quan cửa khẩu hoặc bưu điện (nơi không có tổ chức hải quan) SỔ NHẬN HÀNG do hải quan hoặc bưu điện tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương (nơi không có tổ chức hải quan) cấp, hoặc đơn xin phép đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương cho phép, trong những trường hợp không gửi hoặc nhận quà biếu thường xuyên.
  Điều 6. - Cơ quan hải quan cửa khẩu hoặc bưu điện (nơi không có tổ chức hải quan) thực hiện việc thu thuế đối với các trường hợp quà biếu gửi hoặc nhận quy định trong điều 2 của bản quy định này.
  Điều 7. - Người gửi hoặc người nhận quà biếu phải nộp lệ phí bằng 1% (một phần trăm) giá trị lô hàng (theo giá tính thuế do liên Bộ Ngoại thương - Tài chính ấn định) cho cơ quan hải quan cửa khẩu hoặc bưu điện (nơi không có tổ chức hải quan), đối với mỗi lần làm thủ tục gửi hoặc nhận.
Chương III — ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH
  Điều 8. - Mọi hành vi trái bản quy định này và việc lợi dụng nguồn hàng gửi và nhận để đầu cơ, buôn lậu, gây rối loạn thị trường, phá hoại an ninh trong nước đều bị xử lý theo Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép và luật lệ hải quan hiện hành.
  Điều 9. - Bản quy định này không áp dụng đối với các gia đình có người thân là cán bộ, công nhân viên chức Nhà nước Việt Nam được cử đi công tác, học tập, thực tập, làm chuyên gia, lưu học sinh Việt Nam được Nhà nước gửi đi học và những người được Nhà nước gửi đi lao động ở nước ngoài.
  Điều 10. - Cục trưởng Cục Hải quan có trách nhiệm hướng dẫn thi hành bản quy định này.
Phụ lục 1 — DANH MỤC CÁC LOẠI HÀNG PHI MẬU DỊCH CẤM NHẬP KHẨU

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.