Văn bản · Bộ Tài chính
Văn bản 105/1999/QÐ-BTC
về việc ban hành chế độ kế toán Trung tâm giao dịch chứng khoán
- Tình trạng
- Còn hiệu lực
- Ngày ban hành
- 30/08/1999
- Ngày có hiệu lực
- 15/09/1999
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bị sửa đổi, bổ sung bởi (1)
Hướng dẫn thi hành (5)
- 127/1998/QĐ-TTg — Về việc thành lập Trung tâm Giao dịch chứng khoán (11/07/1998)
- 178-CP — Về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Bộ Tài chính (28/10/1994)
- 15-CP — Về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ (02/03/1993)
- 26/HĐBT — Ban hành Điều lệ kế toán trưởng xí nghiệp quốc doanh (18/03/1989)
- 25/HĐBT — Ban hành Điều lệ tổ chức kế toán Nhà nước (18/03/1989)
Bố cục (72 điều)
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này "Chế độ kế toán Trung tâm giao dịch chứng khoán", gồm: Điều 2. Chế độ kế toán Trung tâm giao dịch chứng khoán áp dụng cho tất cả các Trung tâm giao dịch chứng khoán. Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày ký. Điều 4. Chủ tịch Uỷ ban chứng khoán Nhà nước có trách nhiệm chỉ đạo các Trung tâm giao dịch chứng khoán thực hiện nghiêm chỉnh các quy định trong chế độ kế toán này. Điều 5. Vụ trưởng vụ Chế độ kế toán, Chánh văn phòng Bộ Tài chính, Vụ trưởng Vụ Tài chính các ngân hàng và tổ chức tín dụng chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này. Phần thứ nhất — : Những quy định chung Phần thứ hai — : Hệ thống chứng từ kế toán và giải thích các mẫu chứng từ kế toán. Phần thứ ba — : Hệ thống tài khoản kế toán, giải thích nội dung, kết cấu và phương pháp ghi chép các tài khoản kế toán. Phần thứ t — ư: Hệ thống sổ kế toán và giải thích các mẫu sổ kế toán. Phần thứ năm — : Hệ thống báo cáo tài chính và hướng dẫn cách lập báo cáo. Phần THỨ NHẤT — NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Chế độ kế toán Trung tâm giao dịch chứng khoán (Trung tâm GDCK) được áp dụng cho tất cả các Trung tâm GDCK, trực thuộc Uỷ ban chứng khoán nhà nước. Các Trung tâm GDCK, phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định pháp lý của nhà nước về kế toán, thống kê và quy định trong chế độ kế toán này. Điều 2. Kế toán trung tâm GDCK là công việc tổ chức hệ thống thông tin kinh tế, tài chính bằng số liệu để quản lý và kiểm soát nguồn kinh phí, tình hình sử dụng, quyết toán kinh phí, tình hình quản lý và sử dụng các loại vật tư, tài sản; tình hình chấp hành dự toán thu, chi và thực hiện các tiêu chuẩn, định mức chi tiêu của nhà nước ở Trung tâm GDCK; tình hình thu phí. lệ phí và sử dụng các khoản thu này; cung cấp thông tin tổng quát về tình hình tài sản, công nợ, nguồn kinh phí; tình hình hoạt động giao dịch chứng khoán, hoạt động thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán ở Trung tâm GDCK. Điều 3. Kế toán Trung tâm GDCK có nhiệm vụ: Điều 4. Kế toán sử dụng phương pháp ghi sổ "Kép" Điều 5. Ngôn ngữ, đơn vị tiền tệ, đơn vị đo lường sử dụng trong kế toán? Điều 6. Việc ghi chép trên chứng từ, sổ kế toán phải dùng mực tốt, không phai, số liệu và chữ viết phải rõ ràng, liên tục, có hệ thống. Không được ghi xem kẽ, ghi chồng đè. Không được bỏ cách dòng, nếu còn dòng thừa chưa ghi hết phải gạch bỏ chỗ thừa. Không được viết tắt. Chủ tài khoản và kế toán trưởng (hay phụ trách kế toán) tuyệt đối không được ký sẵn trên các tờ séc hoặc các chứng từ còn trắng. Cấm tẩy xoá, cấm dùng chất hoá học để sửa chữa. Khi cần sửa chữa phải sử dụng các phương pháp sửa chữa theo quy định của chế độ kế toán Nhà nước. Điều 7. Niên độ kế toán tính theo năm dương lịch, bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 đến hết ngày 31 tháng 12. Điều 8. Yêu cầu công tác kế toán ở các Trung tâm GDCK. Điều 9. Nội dung công việc kế toán của Trung tâm GDCK gồm: Điều 10. Kiểm kê tài sản: Điều 11. Kiểm tra kế toán và kiểm toán nội bộ Điều 12. Bảo quản, lưu trữ tài liệu kế toán Điều 13. Trung tâm GDCK phải tổ chức bộ máy kế toán. Bộ máy kế toán gồm phòng (ban) và các bộ phận khác thực hiện các nội dung công tác kế toán quy định tại Điều 9. Điều 14. Cán bộ kế toán không được kiêm nhiệm làm thủ kho, thủ quỹ và các công tác phụ trách vật chất khác. Điều 15. Cán bộ, nhân viên ở Trung tâm GDCK có liên quan đến công tác kế toán đều phải nghiêm chỉnh chấp hành các nguyên tắc, chế độ và thủ tục tài chính, kế toán, có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời những chứng từ, tài liệu cần thiết cho công tác kế toán và chịu trách nhiệm về sự chính xác, trung thực, hợp pháp, hợp lệ của các chứng từ, tài liệu đã thực hiện. Điều 16. Đứng đầu bộ máy kế toán của Trung tâm GDCK là kế toán trưởng (Phụ trách kế toán), có chức năng giúp Giám đốc Trung tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện toàn bộ công tác tài chính, kế toán và thông tin kinh tế trong đơn vị, thực hiện kiểm tra, kiểm soát việc tuân thủ các chế độ, chính sách tài chính, kế toán, việc thực hiện các tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước và việc chấp hành kỷ luật tài chính, kế toán ở Trung tâm GDCK. Điều 17. Kế toán trưởng hay phụ trách kế toán chịu sự chỉ đạo, lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc Trung tâm GDCK, đồng thời chịu sự chỉ đạo và kiểm tra về mặt nghiệp vụ tài chính, kế toán của cơ quan quản lý tài chính cấp trên (Uỷ ban chứng khoán nhà nước). Điều 18. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, thuyên chuyển công tác, thi hành kỷ luật kế toán trưởng (phụ trách kế toán) do cấp có thẩm quyền bổ nhiệm quyết định trên cơ sở đề nghị của Giám đốc Trung tâm GDCK, sau khi đã thoả thuận với cơ quan cấp trên trực tiếp và cơ quan tài chính cùng cấp (nến có). Điều 19. Người được bổ nhiệm giữ chức vụ kế toán trưởng hoặc phụ trách kế toán phải có đủ các tiêu chuẩn sau: Điều 20. Kế toán trưởng hoặc phụ trách kế toán có nhiệm vụ sau: Điều 21. Kế toán trưởng hoặc phụ trách kế toán có các quyền hạn sau: Điều 22. Chứng từ kế toán là những chứng minh bằng giấy tờ về nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành. Mọi số liệu ghi trong sổ kế toán bắt buộc phải được chứng minh bằng chứng từ kế toán hợp pháp và hợp lệ. Điều 23. Mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong hoạt động giao dịch, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán, trong việc tiếp nhận và sử dụng nguồn kinh phí Ngân sách nhà nước, các khoản thu chi, trích lập và sử dụng các quỹ của Trung tâm GDCK đều phải lập chứng từ. Chứng từ phải lập theo đúng quy định trong chế độ này và ghi chép đầy đủ, kịp thời, đúng với sự thực nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát sinh. Điều 24. Nội dung của hệ thống chứng từ kê toán gồm 6 chỉ tiêu: Điều 25. Chứng từ kế toán phải có đầy đủ các yếu tố sau đây: Điều 26. Chứng từ kế toán phải được lập đầy đủ số liên theo qui định. Ghi chép chứng từ phải rõ ràng, trung thực, đầy đủ các yếu tố, gạch bỏ phần để trống. Không được tẩy xoá, sửa chữa trên chứng từ. Trường hợp viết sai cần huỷ bỏ, không xé rời ra khỏi cuống. Điều 27. Nghiêm cấm: Điều 28. Trình tự luân chuyển chứng từ kế toán: Điều 29. Kiểm tra chứng từ kế toán, gồm: Điều 30. Lưu trữ chứng từ kế toán: Điều 31. Qui định về sử dụng và quản lý mẫu chứng từ kế toán: Điều 32. In và phát hành mẫu chứng từ kế toán; Điều 33. Xử lý các vi phạm: Điều 34. Danh mục chứng từ kế toán (xem phần thứ hai) Điều 35. Tài khoản kế toán là phương pháp kế toán dùng để phân loại và hệ thống hoá các nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát sinh theo nội dung kinh tế Tài khoản kế toán phản ánh và kiểm soát thường xuyên, liên tục có hệ thống tình hình vận động tài sản, vật tư, tiền vốn; tình hình nhận và sử dụng kinh phí; tình hình hoạt động giao dịch chứng khoán, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán; tình hình thu và sử dụng các khoản thu phí, lệ phí ở Trung tâm giao dịch chứng khoán. Điều 36. Tài khoản kế toán được mở cho từng đối tượng kế toán có nội dung kinh tế riêng biệt. Toàn bộ các tài khoản kế toán sử dụng trong kế toán hình thành Hệ thống tài khoản kế toán. Bộ Tài chính quy định thống nhất Hệ thống tài khoản kế toán áp dụng cho Trung tâm giao dịch chứng khoán. Hệ thống tài khoản kế toán là bộ phậm cấu thành quan trọng của kế toán bao gồm những quy định thống nhất về loại tài khoản, số lượng tài khoản, ký hiệu, nội dung phản ánh và phương pháp ghi chép kế toán của từng tài khoản. Điều 37. Hệ thống tài khoản kế toán của Trung tâm giao dịch chứng khoán được xây dựng theo nguyên tắc dựa vào bản chất, nội dung và đặc điểm hoạt động của Trung tâm giao dịch chứng khoán, trên cơ sở vận dụng nguyên tắc phân loại và mã hoá của hệ thống tài khoản kế toán Việt Nam nhằm: Điều 38. Hệ thống tài khoản kế toán Trung tâm giao dịch chứng khoán gồm các tài khoản trong Bảng Cân đối kế toán (trong bảng) và các tài khoản ngoài bảng Cân đối kế toán (ngoài bảng) Điều 39. Hệ thống tài khoản kế toán của Trung tâm Giao dịch chứng khoán được quy định tài khoản kế toán cấp 1, cấp 2, cấp 3 phù hợp với bản chất, nội dung, đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý của Trung tâm. Điều 40. Hệ thống tài khoản kế toán (xem phần thứ ba) Điều 41. Trung tâm giao dịch chứng khoán phải mở, ghi chép, quản lý, bảo quản, lưu trữ sổ kế toán theo đúng các quy định của chế độ sổ kế toán này. Điều 42. Sổ kế toán gồm 2 loại: Điều 43. Sổ Nhật ký dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh trong từng kỳ kế toán và trong một niên độ kế toán theo trình tự thời gian và quan hệ đối ứng các tài khoản của các nghiệp vụ đó. Số liệu kế toán trên sổ Nhật ký phản ánh tổng số phát sinh bên Nợ và bên Có của tất cả các tài khoản kế toán sử dụng ở đơn vị. Điều 44. Sổ Cái dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh theo nội dung kinh tế (Theo tài khoản kế toán). Số liệu trên sổ cái phản ánh một cách tổng hợp tình hình biến động và hiện có của các loại tài sản, các khoản nợ phải thu, phải trả; tình hình thực nhận và sử dụng các nguồn kinh phí hoạt động; tình hình thu và sử dụng khoản thu từ hoạt động giao dịch và lưu ký chứng khoán tại Trung tâm GDCK. Điều 45. Sổ, thẻ kế toán chi tiết dùng để ghi chép chi tiết các đối tượng kế toán theo yêu cầu quản lý. Số liệu trên sổ kế toán chi tiết cung cấp các thông tin phục vụ cho việc quản lý từng loại tài sản, nguồn vốn, kinh phí, nợ phải thu, phải trả, các khoản trong hoạt động giao dịch và lưu ký chứng khoán chưa được phản ánh chi tiết trên sổ nhật ký và Sổ cái, phục vụ cho việc tính và lập các chỉ tiêu trong báo cáo quyết toán. Điều 46. Trung tâm giao dịch chứng khoán chỉ được mở và giữ một hệ thống sổ kế toán chính thức và duy nhất. Điều 47. Việc ghi sổ kế toán nhất thiết phải căn cứ vào chứng từ kế toán. Mọi số liệu ghi trên sổ kế toán buộc phải có chứng từ kế toán hợp pháp, hợp lệ, hợp lý chứng minh. Chứng từ kế toán dùng để ghi sổ kế toán được quy định tại phần I của chế độ kế toán áp dụng cho Trung tâm giao dịch chứng khoán và các qui định khác có liên quan. Điều 48. Sổ kế toán phải được quản lý chặt chẽ, phân công rõ ràng trách nhiệm cá nhân giữ và ghi sổ. Sổ kế toán giao cho nhân viên nào thì nhân viên đó phải chịu trách nhiệm về những điều ghi trong sổ và giữ sổ trong suốt thời gian ghi chép và quản lý sổ. Điều 49. Sổ kế toán phải dùng giấy tốt, đảm bảo ghi chép rõ ràng, sạch sẽ. Ghi sổ kế toán phải dùng mực tốt, không phai. Cấm tẩy xoá, cấm dùng chất hoá học để sửa chữa. Khi sửa chữa số liệu trong sổ kế toán nhất thiết phải thực hiện đúng các phương pháp qui dịnh trong chế độ này. Điều 50. Hình thức sổ kế toán áp dụng cho Trung tâm giao dịch chứng khoán là hình thức sổ kế toán Nhật ký chung. Điều 51. Việc mở và ghi chép sổ kế toán phải đảm bảo phản ánh đầy đủ, kịp thời, chính xác, trung thực, liên tục, có hệ thống tình hình biến động và hiện có của các loại tài sản, nợ phải thu, phải trả; tình hình nhận và sử dụng các nguồn kinh phí hoạt động; các khoản thu, sử dụng các khoản thu trong hoạt động giao dịch, lưu ký chứng khoán; tình hình thanh toán bù trừ, lưu ký chứng khoán; tình hình trích lập và sử dụng các quỹ;... nhằm cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính cho việc lập báo cáo tài chính của Trung tâm giao dịch chứng khoán. Điều 52. Sổ kế toán phải được mở đầu niên độ kế toán hoặc ngay sau khi có quyết định thành lập, khi bắt đầu hoạt động. Giám đốc Trung tâm giao dịch chứng khoán và kế toán trưởng (Hoặc người phụ trách kế toán) có trách nhiệm ký duyệt các sổ kế toán này trước khi sử dụng. Điều 53. Sổ kế toán phải theo đúng mẫu quy định trong chế độ này, sổ có thể đóng thành quyển hoặc để tờ rời. Các tờ sổ khi dùng xong phải đóng thành quyển để lưu trữ. Trước khi dùng sổ kế toán phải hoàn thiện các thủ tục sau: Điều 54. Số liệu ghi trên sổ kế toán phải rõ ràng, liên tục, có hệ thống; Không được bỏ cách dòng; không được ghi xen kẽ, chồng đè; khi hết trang phải cộng số liệu mỗi trang, đồng thời phải chuyển số tổng cộng sang đầu trang kế tiếp. Điều 55. Khi kết thúc kỳ, niên độ kế toán (sau khi ghi sổ xong và lập báo cáo tài chính), Trung tâm GDCK phải in sổ kế toán, đóng thành tập, phải đóng dấu giáp lai và có đủ chữ ký của người lập và người chịu trách nhiệm pháp lý của Trung tâm GDCK trên toàn bộ sổ kế toán sử dụng trong năm tài chính. Điều 56. Các sai sót hoặc nhầm lẫn trong quá trình ghi chép sổ kế toán (nếu có) phải được sửa chữa hoặc đính chính theo một trong 3 phương pháp sau: Điều 57. Khi dùng phương pháp cải chính để đính chính những chỗ sai trên các sổ kế toán thì gạch một đường bằng mực đỏ xoá bỏ chỗ ghi sai để có thể còn trông thấy được nội dung của những chỗ ghi sai đã xoá bỏ; Trên chỗ bị xoá bỏ ghi những con số đúng bằng mực thường. Nếu sai xót chỉ là một chữ số thì cũng phải xoá bỏ toàn bộ con số sai và viết lại con số đúng. Cần phải chứng thực chỗ đính chính bằng chữ ký của Kế toán trưởng. Điều 58. Khi dùng phương pháp ghi số âm để đính chính chỗ sai thì trước hết cần viết lại bằng mực đỏ bút toán sai (Ghi số âm) để huỷ bỏ bút toán này, sau đó viết bút toán đúng để thay thế. Điều 59. Phương pháp ghi bổ sung được áp dụng cho trường hợp bút toán ghi đúng về quan hệ đối ứng giữa các tài khoản nhưng số tiền ghi lại ít hơn số tiền thực tế phát sinh trong các nghiệp vụ kinh tế, tài chính hoặc là bỏ sót không cộng đủ số tiền ghi trên chứng từ. Trường hợp sửa chữa theo phương pháp này cũng phải lập "Chứng từ ghi sổ đính chính" do kế toán trưởng (hoặc người phụ trách kế toán) ký xác nhận. Điều 60. Trường hợp ghi sổ kế toán bằng máy vi tính thì tuỳ từng trường hợp kế toán có thể sửa chữa sai sót theo một trong ba phương pháp nêu trên, song phải tuân thủ các quy định sau: Điều 61. Khi báo cáo quyết toán năm được duyệt y hoặc khi công việc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán kết thúc và đã có ý kiến kết luận chính thức, nếu có quyết định phải sửa lại số liệu trên báo cáo tài chính liên quan đến số liệu đã ghi sổ kế toán thì đơn vị phải sửa lại sổ kế toán và số dư của những tài khoản liên quan. Tuỳ từng trường hợp cụ thể việc sửa chữa số liệu có thể được thực hiện trực tiếp trên sổ kế toán của năm báo cáo hoặc sổ kế toán năm nay (Thời điểm phát hiện nghiệp vụ sai); Trong trường hợp điều chỉnh trên sổ kế toán năm nay, thì đồng thời phải ghi chú vào trang cuối cùng (Dưới dòng cộng sổ) của sổ kế toán năm trước để tiện đối chiếu, kiểm tra. Điều 62. Các loại sổ kế toán (dù tạm giữ ở bộ phận kế toán hay lưu trữ tại bộ phận lưu trữ chung của TTGDCK) đều phải được sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp và bảo quản chu đáo ở trong tủ hoặc phòng có khoá chắc chắn để tránh mất mát, thất lạc. Tại nơi lưu trữ phải đầy đủ các biện pháp cần thiết để đảm bảo việc lưu trữ sổ kế toán được an toàn. Điều 63. Danh mục mẫu sổ và trình tự ghi sổ kế toán Nhật ký chung được thể hiện trên sơ đổ sau (xem phần thứ tư). Điều 64. Báo cáo tài chính là một phương pháp tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính để phản ánh tình hình nhận kinh phí, sử dụng kinh phí, tình hình thực hiện giao dịch chứng khoán, thanh toán bù trừ và lưu ký chứng khoán, kết quả hoạt động của Trung tâm GDCK trong một thời kỳ nhất định vào hệ thống mẫu biểu qui định thống nhất. Điều 65. Trung tâm GDCK phải lập và gửi báo cáo tài chính tới cơ quan quản lý cấp trên và cơ quan tài chính theo qui định. Điều 66. Thời hạn và nơi nhận báo cáo tài chính qui định như sau: Điều 67. Danh mục báo cáo tài chính (xem phần thứ năm) Phần THỨ HAI — HỆ THỐNG CHỨNG TỪ KẾ TOÁN VÀ GIẢI THÍCH CÁC MẪU CHỨNG TỪ KẾ TOÁN Phần THỨ BA — HỆ THỐNG TÀI KHOẢN KẾ TOÁN GIẢI THÍCH NỘI DUNG, KẾT CẤU VÀ PHƯƠNG PHÁP GHI CHÉP CÁC TÀI KHOẢN KẾ TOÁN Phần THỨ T — Ư Phần THỨ NĂM — HỆ THỐNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ HƯỚNG DẪN CÁCH LẬP BÁO CÁO Phần 1 — : TỔNG HỢP TÌNH HÌNH KINH PHÍ Phần II — TỔNG HỢP KINH PHÍ ĐÃ SỬ DỤNG ĐỀ NGHỊ QUYẾT TOÁN Phần III — : QUYẾT TOÁN KINH PHÍ ĐẦU TƯ, KINH PHÍ SỬA CHỮA LỚN SỬ DỤNG TRONG KỲ
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.