Văn bản

Văn bản 14/CP

Ban hành Quy chế Đăng ký tầu biển và thuyền viên

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
25/02/1994
Ngày có hiệu lực
25/02/1994
Hết hiệu lực
07/09/1997
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)

Được hướng dẫn bởi (2)

Hướng dẫn thi hành (3)

Bố cục (38 điều)

Điều 1. Ban hành kèm theo Nghị định này bản Quy chế Đăng ký tầu biển và thuyền viên.
Điều 2. Nghị định này có hiệu lực từ ngày ký; các quy định trước đây trái với Nghị định này đều bãi bỏ.
Điều 3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Cục trưởng Cục Hàng hải Việt nam chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.
Điều 1.
Điều 2.
Điều 3.
Điều 4. Chủ tầu có nghĩa vụ quản lý và khai thác tầu biển đã được đăng ký tại Việt Nam trên cơ sở pháp luật Việt Nam.
Điều 5.
Điều 6. Mọi hành vi vi phạm chế độ đăng ký tầu biển, thuyền viên quy định tại Quy chế này đều bị xử lý theo các quy định hiện hành.
Điều 7.
Điều 8.
Điều 9.
Điều 10. Để được đăng ký vào "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia" của Việt Nam, tầu biển phải có đầy đủ các điều kiện cơ bản sau đây:
Điều 11. Tầu biển thuộc sở hữu của tổ chức liên doanh giữa Việt Nam và nước ngoài tại Việt Nam hoặc của xí nghiệp 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam có đủ các điều kiện quy định tại Điều 10 Quy chế này cũng được đăng ký tại Việt Nam. Các tầu biển này chỉ được tham gia vận chuyển hàng hoá, hành khách và hành lý trên các tuyến nội địa Việt Nam theo đề nghị của Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam và được Thủ tướng Chính phủ cho phép.
Điều 12.
Điều 13. Trong trường hợp cần thử tầu đóng mới, nhận tầu để đưa về nơi đăng ký chính thức trên cơ sở các hợp đồng đóng tầu, hợp đồng chuyển dịch sở hữu tầu và khi đăng ký tầu biển đang được đóng tại xưởng, thì Chủ tầu có thể đến Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên khu vực nơi gần nhất hoặc Cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài để làm thủ tục đăng ký tạm thời.
Điều 14. Hồ sơ xin đăng ký tạm thời bao gồm:
Điều 15.
Điều 16.
Điều 17.
Điều 18.
Điều 19. Trong trường hợp chuyển đăng ký tầu từ khu vực đăng ký này đến khu vực đăng ký khác tại Việt Nam thì Chủ tầu chỉ cần làm đơn xin chuyển đăng ký và phải nộp lại "Giấy chứng nhận đăng ký tầu biển" cũ.
Điều 20. Trong trường hợp tầu được tái đăng ký tại khu vực đăng ký mà trước đây tầu đã được đăng ký, Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên Trung ương căn cứ vào hồ sơ cũ để tái sử dụng tên tầu.
Điều 21. Trong trường hợp xin đổi tên tầu, Chủ tầu phải làm đơn và nói rõ lý do.
Điều 22.
Điều 23.
Điều 24. Kể từ thời điểm chính thức được xoá tên trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia", tầu biển không còn được hưởng mọi quyền lợi của tầu biển Việt Nam.
Điều 25.
Điều 26.
Điều 27. Các tầu biển thuộc sở hữu của tổ chức Việt Nam có trụ sở chính tại Việt Nam và của công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam được đăng ký ở nước ngoài khi có đủ các điều kiện sau đây:
Điều 28. Nếu trước khi đăng ký ở nước ngoài mà tầu đã được đăng ký ở Việt Nam, thì Chủ tầu phải làm đơn xin rút khỏi đăng ký tầu biển Việt Nam và phải xuất trình bản gốc hợp đồng thuê tầu trần hoặc hợp đồng thuê - mua tầu cho Cơ quan đăng ký tầu biển và thuyền viên khu vực nơi tầu đã được đăng ký kiểm tra, trước khi làm thủ tục cho phép xoá đăng ký trong "Sổ đăng ký tầu biển quốc gia".
Điều 29. Việc giải quyết các vấn đề liên quan đến các tầu biển nói tại Điều 27, Quy chế này phải được thực hiện theo nguyên tắc sau:
Điều 30. Tầu biển Việt Nam chỉ được tiến hành các hoạt động hàng hải sau khi thuyền trưởng, các sĩ quan trưởng ca và các thuyền viên khác thuộc thuyền bộ của tầu đã được đăng ký vào Sổ danh bạ thuyền viên.
Điều 32.
Điều 33.
Điều 34.
Điều 35.
Điều 36. Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam và Bộ trưởng Bộ Thuỷ sản chịu trách nhiệm tổ chức và hướng dẫn thực hiện thống nhất bản Quy chế này./.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.