Văn bản
Văn bản 141 TC/KBNN
về việc phát hành trái phiếu Kho bạc loại kỳ hạn 1 năm
- Tình trạng
- Còn hiệu lực
- Ngày ban hành
- 22/02/1995
- Ngày có hiệu lực
- 01/04/1995
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Hướng dẫn thi hành (2)
- 178-CP — Về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Bộ Tài chính (28/10/1994)
- 72-CP — Về việc ban hành Quy chế phát hành các loại trái phiếu Chính phủ (26/07/1994)
Bố cục (8 điều)
Điều 1. - Phát hành trái phiếu Kho bạc loại kỳ hạn 1 năm, lãi suất 21%/năm, từ ngày 01/04/1995 trên địa bàn 53 tỉnh, thành phố trong cả nước. Điều 2. - Người mua trái phiếu Kho bạc bao gồm: Điều 3. -Trái phiếu Kho bạc được thu và thanh toán bằng đồng Việt Nam (VNĐ); Tiền gốc và lãi được thanh toán một lần khi đến hạn thanh toán (đủ 12 tháng) tại các đơn vị Kho bạc trong cả nước. Điều 4. - Trái phiếu Kho bạc là loại trái phiếu vô danh, có in sẵn mệnh giá với các mức 500.000 đồng, 1.000.000 đồng, 2.000.000 đồng, 5.000.000 đồng và 10.000.000 đồng. Điều 5. - Trái phiếu Kho bạc được tự do mua bán, chuyển nhượng; được sử dụng làm tài sản thế chấp, cầm cố trong các quan hệ tín dụng; nhưng không được dùng để thay thế tiền trong lưu thông và nộp thuế cho Ngân sách Nhà nước. Chủ sở hữu trái phiếu có thể gửi tờ trái phiếu tại cơ quan Kho bạc Nhà nước để bảo quản và phải nộp lệ phí bảo quản theo quy định. Điều 6. - Các khoản thu nhập từ trái phiếu Kho bạc đối với các đối tượng mua bán trái phiếu đều không phải nộp thuế cho Ngân sách Nhà nước. Điều 7. - Các khoản thu về phát hành trái phiếu được tập trung về Ngân sách Trung ương; Nguồn vốn thanh toán trái phiếu và các chi phí phục vụ cho việc phát hành và thanh toán trái phiếu do Ngân sách Trung ương bảo đảm. Điều 8. - Cục trưởng Cục Kho bạc Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, Chi cục trưởng Kho bạc Nhà nước các tỉnh, thành phố được giao nhiệm vụ phát hành trái phiếu có nhiệm vụ thi hành Quyết định này.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.