Văn bản
Văn bản 20/CP
Về việc ban hành Quy chế Quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức
- Tình trạng
- Hết hiệu lực toàn bộ
- Ngày ban hành
- 15/03/1994
- Ngày có hiệu lực
- 15/03/1994
- Hết hiệu lực
- 20/08/1997
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)
Được hướng dẫn bởi (7)
- 39/TC-TCĐN — Hướng dẫn chế độ quản lý vốn vay cho Chương trình phục hồi của Quỹ hợp tác phát triển Kinh tế Hải ngoại Nhật bản (OECF) (22/07/1996)
- 89 TC/VT — HƯớNG DẫN QUảN Lý TàI CHíNH Và Sử DụNG VIệN TRợ CủA CHíNH PHủ CHLB ÐứC THUộC HIệP ÐịNH TàI CHíNH 1991, 1992, 1993 (31/10/1994)
- 39/TC-TCĐN — Hướng dẫn chế độ quản lý vốn vay cho Chương trình phục hồi của Quỹ hợp tác phát triển Kinh tế Hải ngoại Nhật bản (OECF) (22/07/1996)
- 18/TC-ĐTPT — Bổ sung, sửa đổi hướng dẫn chế độ quản lý nguồn vốn vay của Quỹ Hợp tác kinh tế hải ngoại Nhật Bản (OECF) cho các dự án xây dựng cơ bản (12/03/1996)
- 95TC/ĐT — Hướng dẫn chế độ quản lý nguồn vốn vay của Quỹ hợp tác kinh tế hải ngoại Nhật bản (OECF) cho các dự án XDCB (14/11/1994)
- 89 TC/VT — HƯớNG DẫN QUảN Lý TàI CHíNH Và Sử DụNG VIệN TRợ CủA CHíNH PHủ CHLB ÐứC THUộC HIệP ÐịNH TàI CHíNH 1991, 1992, 1993 (31/10/1994)
- 183/TTg — Về việc thành lập Hội đồng quốc gia xét chọn đơn vị trúng thầu các dự án đầu tư lớn (gọi tắt là Hội đấu thầu quốc gia) (16/04/1994)
Hướng dẫn thi hành (1)
- Không số — Tổ chức Chính phủ (30/09/1992)
Bố cục (21 điều)
Điều 1. Ban hành kèm theo Nghị định này bản Quy chế Quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, gọi tắc là ODA. Điều 2. Nghị định này có hiệu lực từ ngày ký. Những quy định đã ban hành trước đây trái với Quy chế này đều bãi bỏ. Điều 3. Bộ trưởng, Thủ tướng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Thủ trưởng cơ quan Trung ương của các đoàn thể quần chúng có trách nhiệm thi hành Nghị định này. Điều 1. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoan nghênh các Chính phủ, tổ chức nước ngoài hỗ trợ phát triển chính thức cho Việt Nam trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam. Điều 2. Hỗ trợ phát triển chính thức (sau đây gọi là ODA) nói trong Quy chế này được hiểu là một hình thức hợp tác phát triển giữa Việt Nam với Chính phủ nước ngoài, các tổ chức quốc tế liên Chính phủ, các tổ chức phi Chính phủ (sau đây gọi tắt là Bên nước ngoài). Điều 3. ODA viện trợ không hoàn lại và các khoản cho vay với các điều kiện ưu đãi về lãi suất và thời hạn thanh toán. Điều 4. ODA dành cho Việt Nam là một trong những nguồn ngân sách quan trọng của Nhà nước được sử dụng cho những mục tiêu ưu tiên của công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội. Điều 5. Điều 6. Việc tổ chức vận động ODA phải căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đầu tư, quy hoạch ODA, kế hoạch 5 năm và hàng năm và nhu cầu của Nhà nước về các nguồn vốn hỗ trợ bên ngoài trong từng thời kỳ. Điều 7. Căn cứ vào quy hoạch ODA và danh mục các chương trình, dự án ưu tiên sử dụng ODA đã được Chính phủ phê duyệt, Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước thống nhất ý kiến với Bộ Tài chính về hạn mức và điều kiện vay trả ODA... chuẩn bị nội dung đàm phán với Bên nước ngoài trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Điều 8. Sau khi kết thúc đàm phán, cơ quan được uỷ quyền đàm phán trình thủ tướng Chính phủ về kết quả đàm phán, nội dung các văn bản thoả thuận sẽ ký với Bên nước ngoài đồng thời đề xuất người thay mặt Chính phủ ký Điều ước quốc tế về ODA với Bên nước ngoài. Văn bản trình Thủ tướng Chính phủ phải kèm theo ý kiến chính thức bằng văn bản của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và Bộ Tài chính. Điều 9. Việc ký, nộp bản gốc và trình Chính phủ phê duyệt Điều ước quốc tế về ODA thực hiện theo quy định tại các Điều 6, Khoản 3, Điều 7 và Điều 8 của Nghị định số 182-HĐBT ngày 28/5/1992 của Hội đồng Bộ trưởng. Điều 10. Trong trường hợp Điều ước quốc tế của Việt Nam ký với bên nước ngoài về ODA yêu cầu phải được ký kết với danh nghĩa Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì cơ quan đề xuất phải thực hiện theo các quy định tại các Điều 7, 8 và 9 của Quy chế này để Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. Điều 11. Trong trường hợp Điều ước quốc tế có những điều khoản trái với luật pháp của Việt Nam, cơ quan đề xuất ký Điều ước quốc tế phải phối hợp cùng Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp để thống nhất ý kiến báo cáo Thủ tướng Chính phủ trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định. Điều 12. Việc quản lý ODA dưới dạng tiền, hàng hoá, gồm cả máy móc, thiết bị, công trình xây dựng phải tuân theo chế độ quản lý ngân sách Nhà nước. Điều 13. Việc quản lý ODA sử dụng cho các công trình xây dựng cơ bản phải theo đúng Quy chế này cũng như các chế độ quản lý hiện hành của Nhà nước về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản. Các công trình xây dựng cơ bản phải có đủ hồ sơ pháp lý theo đúng quy định. Tiến độ thực hiện công trình phải được thể hiện và cân đối trong kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm của Nhà nước cũng như của Bộ, ngành và địa phương. Nếu quy chế sử dụng vốn của Bên nước ngoài đối với một số chương trình, dự án cụ thể không phù hợp với quy chế hiện hành của Nhà nước Việt Nam thì Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài chính và Bộ, ngành có liên quan phải trình Chính phủ quyết định. Điều 14. Các khoản ODA không hoàn lại có thể được Chính phủ cấp lại dưới dạng cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách Nhà nước hoặc dưới dạng tín dụng đầu tư của Nhà nước. Chính phủ cấp các khoản ODA không hoàn lại theo chế độ cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ ngân sách Nhà nước thể hiện trong kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm để đầu tư xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng hoàn vốn. Điều 15. Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan bố trí các nguồn ODA cho các chương trình và dự án phù hợp với đặc điểm và tính chất của từng loại tài trợ để bảo đảm hiệu quả sử dụng cao nhất. Điều 16. Các chương trình và dự án sử dụng ODA phải thực hiện thông qua đấu thầu quốc tế, trừ những trường hợp đặc biệt Thủ tướng Chính phủ sẽ có quyết định riêng. Việc tổ chức đấu thầu quốc tế với các chương trình và dự án ODA được thực hiện theo quy chế đấu thầu quốc tế do Chính phủ quy định. Điều 17. Thủ trưởng các Bộ, ngành, địa phương và cơ quan Trung ương, các đoàn thể quần chúng chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc kiểm tra giám sát việc tiếp nhận và sử dụng ODA của các dự án, chương trình thuộc phạm vi quản lý của cơ quan, địa phương mình. Điều 18. Hàng quý và hàng năm, các Chủ nhiệm chương trình, Giám đốc dự án sử dụng ODA phải báo cáo tình hình tiếp nhận và sử dụng lên các cơ quan quản lý liên quan.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.