Văn bản
Văn bản 24/NH-QĐ
Ban hành thể lệ cho vay đối với cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước và xã viên thuộc các tổ chức kinh tế tập thể làm kinh tế gia đình và giải quyết một số trường hợp khó khăn trong đời sống
- Tình trạng
- Còn hiệu lực
- Ngày ban hành
- 06/04/1983
- Ngày có hiệu lực
- 01/05/1983
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bố cục (21 điều)
Điều 1. Ban hành kèm theo quyết định này Thể lệ cho vay vốn đối với cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước và xã viên thuộc các tổ chức kinh tế tập thể làm kinh tế gia đình và giải quyết một số trường hợp khó khăn trong đời sống. Điều 2. Quỹ tiết kiệm xã hội chủ nghĩa có trách nhiệm tổ chức cho vay vốn đối với cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước và xã viên các hợp tác xã ở thành thị. Điều 3. Bản thể lệ này có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 5 năm 1983, thay thế các chế độ, thể lệ ban hành về vấn đề này của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Điều 4. Các đồng chí chánh văn phòng, chủ nhiệm quỹ tiết kiệm xã hội chủ nghĩa trung ương, giám đốc ngân hàng nông nghiệp, thủ trưởng các vụ, cục, ban ở Ngân hàng Nhà nước trung ương, giám đốc Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc trung ương, trưởng ngân hàng, trưởng quỹ tiết kiện huyện, quận, thị xã, thành phố (thuộc tỉnh) trong phạm vi chức trách chịu trách nhiệm vụ tổ chức thực hiện quyết định này. Điều 1. - Ngân hàng Nhà nước ban hành thể lệ cho vay này nhằm: Điều 2. - Người vay vốn phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây: Điều 3. - Muốn được vay vốn, người cho vay phải có các điều kiện: Điều 4. - Có 3 loại tín dụng như sau: Điều 5. - Phạm vi áp dụng của từng loại tín dụng: Điều 6. - a) Người vay phải làm đơn xin vay, nói rõ lý do vay vốn, tổng số vốn cần thiết cho sản xuất, xây dựng, mua sắm; số vốn tự túc được, số cần xin vay, nguồn trả nợ, khả năng trả nợ hàng tháng và thời hạn trả xong nợ, lấy xác nhận của công đoàn nơi công tác (nếu là cán bộ, công nhân, viên chức) hoặc chủ nhiệm hợp tác xã, tập đoàn sản xuất (nếu là xã viên), nộp cho quỹ tiết kiệm cơ sở (khu vực thành thị) hoặc hợp tác xã tín dụng, quỹ tín dụng nhân dân (khu vực nông thôn nơi cư trú). Điều 7. - Mức vốn để xem xét cho vay là nhu cầu vốn cần thiết cho sản xuất, xây dựng, mua sắm trừ phần vốn tự lực của người vay. Điều 8. - Những vật tư, hàng hoá do Nhà nước quản lý thì cho vay theo giá bán lẻ của Nhà nước, hoặc theo khung giá quy định của cơ quan có thẩm quyền quản lý giá ở địa phương. Những vật tư hàng hoá khác thì cho vay theo giá thị trường. Điều 9. - Thời hạn cho vay tối đa như sau: Điều 10. - Tài khoản cho vay, cho vay theo tài khoản đơn giản. Người vay phải làm giấy nhận nợ có kỳ hạn; phải trả nợ cũ đúng hạn mới được vay món mới. Điều 11. - Lãi xuất tiền vay thi hành theo chế độ hiện hành về lãi xuất tiền gửi và cho vay của ngân hàng và hợp tác xã tín dụng. Điều 12. - Thu nợ, người vay phải dùng khoản thu nhập về tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ (bán sản phẩm cho Nhà nước hoặc tự tiêu thụ trên thị trường, nếu Nhà nước không thu mua) hoặc bằng những khoản thu nhập khác để trả nợ đúng hạn quy định. Có thể nộp tiền mặt hoặc đề nghị trích số dư ở thẻ tiết kiệm để trả nợ (gốc và lãi). Điều 13. - Người vay gặp khó khăn đột xuất do nguyên nhân khách quan gây nên, không có khả năng trả nợ đúng hạn, thì có thể làm đơn xin gia hạn nợ. Trưởng quỹ tiết kiệm cơ sở, chủ nhiệm hợp tác xã tín dụng, quỹ tín dụng nhân dân được quyền gia hạn nợ không quá 3 tháng, đối với mỗi món nợ đến hạn. Nếu không có lý do chính đáng để được gia hạn, thì số nợ đến hạn không có khả năng trả bị chuyển sang nợ quá hạn, chịu lãi suất phạt theo chế độ Nhà nước quy định. Điều 14. - Quỹ tiết kiệm xã hội chủ nghĩa và hợp tác xã tín dụng, quỹ tín dụng nhân dân có trách nhiệm kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay. Nếu phát hiện vốn vay bị sử dụng sai mục đích thì phải thu hồi ngay trước hạn hoặc chuyển sang nợ quá hạn, theo dõi và đôn đốc người vay hoàn trả; nếu người vay có khả năng hoàn trả nhưng không chịu trả nợ thì lập biên bản gửi về cơ quan quản lý người vay (nếu là cán bộ, công nhân , viên chức Nhà nước) hoặc gửi Uỷ ban nhân dân xã để yêu cầu xử lý. Nếu người vay vẫn không chấp hành thì đơn vị cho vay lập hồ sơ khởi tố trước pháp luật. Điều 15. - Quỹ tiết kiệm xã hội chủ nghĩa trung ương, Ngân hàng nông nghiệp và Vụ kế toán và quản lý quỹ ngân sách Nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra tình hình thực hiện thể lệ này ở các cấp cơ sở và hợp tác xã tín dụng. Điều 16. - Vốn cho vay phải được kế hoạch hoá từ ngân hàng cơ sở. Hệ thống quỹ tiết kiệm chỉ được cho vay trong phạm vi chỉ tiêu kế hoạch do ngân hàng cấp trên duyệt hàng quý, năm. Các hợp tác xã tín dụng và quỹ tín dụng nhân dân cho vay trước hết bằng vốn tự có, trường hợp thiếu vốn ngân hàng có thể cho hợp tác xã tín dụng vay để làm nguồn vốn cho vay theo kế hoạch. Điều 17. - Hàng tháng, ngân hàng cơ sở phải lập báo cáo thống kê phản ánh hoạt động của các loại cho vay này theo chế độ báo cáo thống kê do Ngân hàng trung ương quy định.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.