Quyết định

Quyết định 34/1999/QĐ-BNN/TCCB

Về việc ban hành Quy chế làm việc giữa Cục Kiểm lâm với các Vườn quốc gia trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Tình trạng
Còn hiệu lực
Ngày ban hành
12/02/1999
Ngày có hiệu lực
27/02/1999
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bố cục (18 điều)

Điều 1. Nay ban hành kèm theo Quyết định này bản Quy chế làm việc giữa Cục Kiểm Lâm với các Vườn quốc gia trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày, kể từ ngày ký.
Điều 3. Chánh Văn phòng Bộ, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ, Cục trưởng Cục Kiểm lâm, Thủ trưởng các đơn vị thuộc Bộ và Giám đốc các Vườn quốc gia thuộc Bộ chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
Chương I — NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
  Điều 1. Cục trưởng Cục Kiểm lâm được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (sau đây gọi tắt là Bộ) giao quản lý và chỉ đạo những hoạt động về chuyên môn nghiệp vụ của các Vườn quốc gia trực thuộc Bộ.
  Điều 2. Hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của các Vườn quốc gia trực thuộc Bộ phải tuân theo Quy chế quản lý rừng đặc dụng ở Việt Nam, các văn bản pháp luật của Nhà nước và theo chương trình kế hoạch hoặc dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
  Điều 3. Mọi quy hoạch, kế hoạch, công trình, các dự án do các Vườn quốc gia xây dựng, trước khi trình Lãnh đạo Bộ phê duyệt, phải có ý kiến tham gia của các Vụ chức năng và của Cục Kiểm lâm, theo đúng quy định quản lý nhà nước và Quy chế làm việc của Bộ, không ảnh hưởng đến công tác bảo tổn thiên nhiên, bảo tổn và phát triển đa dạng sinh học của đất nước.
Chương II — NHIỆM VỤ CỦA CỤC KIỂM LÂM
  Điều 4. Cục Kiểm lâm chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng về quản lý và chỉ đạo chuyên môn nghiệp vụ các Vườn quốc gia trực thuộc Bộ (Quyết định số 2968/NN-TCCB-QĐ ngày 15/11/1997).
  Điều 5. Công tác quản lý - bảo vệ rừng:
  Điều 6. Công tác pháp chế - thanh tra:
  Điều 7. Công tác bảo tồn thiên nhiên và môi trường:
Chương III — NHIỆM VỤ CỦA CÁC VƯỜN QUỐC GIA
  Điều 8. Giám đốc Vườn quốc gia là người chịu trách nhiệm về mọi hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của Vườn quốc gia trước Cục trưởng Cục Kiểm lâm.
  Điều 9. Giám đốc Vườn quốc gia phối hợp với chính quyền địa phương (đặc biệt ở vùng đệm) tổ chức ổn định dân cư, định canh định cư, nhằm nâng cao đời sống cho nhân dân trên địa bàn, động viên khuyến khích họ tham gia bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của Vườn quốc gia.
  Điều 10. - Khi xây dựng chương trình kế hoạch công tác hàng năm và ký kết các dự án, Giám đốc Vườn quốc gia cần thống nhất ý kiến với Cục Kiểm lâm trước khi trình Bộ duyệt.
  Điều 11. Giám đốc Vườn quốc gia chỉ đạo Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia hoàn thành tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các cơ quan kiểm lâm đóng trên địa bàn, nhằm thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng của Vườn quốc gia.
  Điều 12. Chế độ báo cáo:
Chương IV — MỘT SỐ QUY ĐỊNH CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CÁC CỤC, VỤ THUỘC BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
  Điều 13. Hàng năm, Cục Kiểm lâm cùng với các Vườn quốc gia tổ chức hội nghị giao ban về chuyên môn nghiệp vụ và giúp Bộ tổ chức họp tổng kết công tác khối các Vườn quốc gia, có các Vụ, Cục liên quan tham dự, để kiểm điểm công tác và bàn phương hướng nhiệm vụ cho những năm tiếp theo.
  Điều 14. Cục Kiểm Lâm phối hợp với các Vụ, Cục liên quan tổ chức hội thảo trao đổi kinh nghiệm và bàn biện pháp triển khai nhằm thực hiện có hiệu quả những vấn đề có liên quan đến lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên, các dự án quốc tế quan trọng của các Vườn quốc gia.
Chương V — ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG
  Điều 15. - Hàng năm, Cục trưởng Cục Kiểm lâm và Giám đốc các Vườn quốc gia tổ chức kiểm điểm tình hình thực hiện Quy chế, khi cần thiết sẽ kiến nghị Bộ bổ sung, sửa đổi Quy chế cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của công tác quản lý nhà nước và phát triển bền vững hệ thống rừng đặc dụng và các Vườn quốc gia./.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.