Văn bản
Văn bản 390/TTg
Về quy định việc thị thực hộ chiếu
- Tình trạng
- Hết hiệu lực toàn bộ
- Ngày ban hành
- 27/10/1959
- Ngày có hiệu lực
- 11/11/1959
- Hết hiệu lực
- 01/09/1993
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)
- 48-CP — Về hộ chiếu và thị thực (08/07/1993)
Được hướng dẫn bởi (2)
- 71/TTLB — Quy định về thu lệ phí cấp hộ chiếu, các loại giấy tờ chứng nhận tại Việt Nam cho người nước ngoài và công dân Việt Nam nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú (05/12/1991)
- 280/QĐ-UB — Về công tác kiểm soát và quản lý người nhập, xuất và quá cảnh TP.Hồ Chí Minh (18/10/1984)
Hướng dẫn thi hành (1)
- 389/TTg — Về quy định việc cấp hộ chiếu (27/10/1959)
Bố cục (8 điều)
Điều 1. Công dân Việt Nam hay người ngoại quốc ra vào nước Việt Nam dân chủ cộng hoà phải mang theo hộ chiếu có thị thực của cơ quan có thẩm quyền của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và phải xuất trình hộ chiếu có thị thực cho Đồn công an ở địa điểm cuối cùng lúc ra hay địa điểm đầu tiên lúc vào. Điều 2. Thị thực vào hộ chiếu gồm có các loại: Điều 3. Bộ Ngoại giao cấp tất cả các loại thị thực vào các loại hộ chiếu. Điều 4. Trong phạm vi thẩm quyền của mình, Bộ Ngoại giao và Bộ Công an sẽ quy định thủ tục và những giấy tờ cần thiết để xin thị thực. Điều 5. Thời hạn có giá trị của thị thực vào hộ chiếu nhiều nhất là 3 tháng. Trường hợp đặc biệt, thị thực có thể cấp đến 6 tháng. Điều 6. Thị thực quá cảnh một lần đi qua nước Việt Nam dân chủ cộng hoà hay quá cảnh cả đi lẫn về có giá trị nhiều nhất trong 15 ngày. Trường hợp quá cảnh đi bằng máy bay, tạm trú tại trường bay trong thời hạn 24 giờ thì được miễn thị thực. Điều 7. Người nào dùng hoặc làm thị thực giả mạo, dùng thị thực của người khác, tự ý sửa đổi những điều ghi trong thị thực sẽ bị truy tố trước pháp luật. Điều 8. Các ông Bộ trưởng Bộ Ngoại, Bộ Công an và Bộ Tài chính chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.