Sắc lệnh · Chủ tịch nước

Sắc lệnh 49/SL

Về việc quy định Luật Thuế trực thu

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
18/06/1949
Ngày có hiệu lực
18/06/1949
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Được hướng dẫn bởi (3)

Bố cục (60 điều)

Điều 1. Kể từ ngày mùng một tháng giêng năm 1950, chế độ thuế trực thu áp dụng trong toàn cõi Việt Nam cho người Việt Nam là chế độ quy định trong bộ luật đính theo sắc lệnh này.
Điều 2. Những luật lệ trái với sắc lệnh này đều bãi bỏ.
Điều 3. Ông Bộ trưởng Bộ Tài chính chiểu sắc lệnh thi hành.
Điều 1. Thuế điền thổ đánh vào tất cả các ruộng đất ngoài những đất thuộc vào chu vi các thành phố, tỉnh lỵ, thị xã, v.v... đã phải chịu thuế thổ trạch kể ở Chương hai sắc lệnh này và những ruộng đất thuộc vào những trường hợp được miễn kể ở điều 4, mục 3 dưới đây.
Điều 2. Người chịu thuế là người hoặc đoàn thể có tư cách pháp nhân hiện có quyền sở hữu ruộng đất đến hoặc trong trường hợp dụng ích hiện có quyền hưởng dụng đến hoặc trong trường hợp thuê thát dài hạn, từ 20 năm trở lên hiện đứng tên thuê.
Điều 3. Nếu có sự chuyển dịch phải khai trình nhà chức trách để sang tên trong sổ địa chính và sổ thuế. Nếu chưa khai trình, người chủ cũ vẫn phải chịu thuế như không có việc chuyển dịch.
Điều 4. Được miễn thuế:
Điều 5. Thuế điền thổ chia ra làm hai hạng:
Điều 6. Các ruộng cấy lúa chia làm 4 hạng như sau này:
Điều 7. Đất hạng nhất là đất giồng cao su, thuốc lào, thuốc lá, giầu không, dâu, cau, dừa, mía, hồ tiêu, các thứ rau, các ruộng muối.
Điều 8. Đất thuộc vào chu vi các đồn điền do Chính phủ cho phép khai khẩn, phải chịu thuế bắt đầu từ ngày mồng một tháng giêng năm ký nghị định cho phép khai khẩn vĩnh viễn.
Điều 9. Thuế biểu thuế điền thổ do sắc lệnh ấn định hàng năm theo đề nghị của Liên bộ Tài chính đến Canh nông.
Điều 10. Việc xếp ruộng đất vào các hạng kể ở các điều 6 và 7 bắt đầu thi hành lần thứ nhất vào đầu năm 1950 và cứ 5 năm lại xét lại một lần.
Điều 11. Mỗi khi tới kỳ hạn xếp đặt lại các hạng ruộng đất tại mỗi xã, đặt ra một Hội đồng kiểm soát thuế điền thổ gồm có:
Điều 12. Khi lập xong bảng thống kê ruộng đất kể ở điều 11, Hội đồng phải cáo thị cho dân chúng biết và để bảng thông kê ở cổng quán hoặc nơi công cộng trong xã trong một hạn là 30 hôm để cho công chúng được tự do xem xét.
Điều 13. Trong hạn 30 ngày kể trên, các chủ ruộng có quyền khiếu nại về diện tích và phân hạng các ruộng đất của mình. Đơn khiếu nại gửi đến Hội đồng kiểm soát hàng xã xét, lấy biên lai làm bằng. Nếu Hội đồng hàng xã sau khi xét đơn, vẫn giữ nguyên quan điểm cũ, thì trong hạn 3 hôm phải chuyển đơn khiếu nại và hồ sơ có ghi ý kiến của Hội đồng lên Hội đồng kiểm soát thuế điền thổ hàng tỉnh xét lại lần cuối cùng.
Điều 14. ở mỗi tỉnh đặt ra một Hội đồng kiểm soát thuế điền thổ gồm có:
Điều 15. Thuế điền thổ thu theo sổ nhân danh. Tuy nhiên trong thời quá độ, các tiểu điền chủ có thể ghi vào sổ tổng số theo một chương trình do nghị định của Bộ trưởng Bộ Tài chính ấn định.
Điều 16. Việc giảm hoặc miễn thuế điền thổ đều theo thủ tục chung ấn định ở Chương VIII Bộ luật này.
Điều 17. Thuế thổ trạch chỉ áp dụng trong chu vi các thành phố, tỉnh lỵ, thị xã và các thị trấn coi như tỉnh lỵ.
Điều 18. Thuế thổ trạch gồm có hai thứ:
Điều 19. Thuế đánh vào người hoặc đoàn thể có tư cách pháp nhân hiện có quyền sở hữu các nhà đất và căn cứ vào tình hình ngày mồng một tháng giêng dương lịch.
Điều 20. Những khi chuyển dịch bất động sản, phải khai trình nhà chức trách để sang tên trong sổ địa chính và sổ thuế. Nếu chưa khai trình, người chủ cũ vẫn phải chịu thuế như không có việc chuyển dịch.
Điều 21. Phải chịu thuế đánh vào đất đã làm nhà:
Điều 22. Thuế đánh vào đất đã làm nhà gồm có hai phần:
Điều 23. Mỗi năm Bộ Tài chính, sau khi thoả thuẩn với Bộ Nội vụ, ra nghị định xếp đặt các thành phố, các tỉnh lỵ và các thị trấn coi như tỉnh lỵ vào các khu vực từ thứ 1 đến 4 và đề nghị dự án sắc lệnh ấn định thuế biểu đánh vào diện tích toàn thể ghi ở các điều 22 và 30.
Điều 24. Cứ 5 năm một lần, một Hội đồng gồm có các nhân viên sau đây, lập bảng ấn định những giá tiền thuế nhà:
Điều 25. Thuế biểu là 6% (sáu phần trăm) giá tiền thuê nhà.
Điều 26. Nếu chưa đến thời kỳ ấn định lại giá thuê nhà, mà vì trường hợp đặc biệt giá tiền thuê nhà sụt xuống hay tăng lên, Uỷ ban kháng chiến hành chính thành phố hay tỉnh sau khi được Uỷ ban kháng chiến hành chính khu thoả thuận, có thể triệu tập một hội đồng bất thường để ấn định lại các giá tiền thuê nhà.
Điều 27. Đối với những nhà cửa mới làm hay sửa chữa lại, giá tiền thuê nhà sẽ do Trưởng ty thuế trực thu thành phố hay tỉnh ấn định, so sánh với giá thuê các nhà tương tự.
Điều 28.
Điều 29. Những nhà cửa mới làm được miễn thuế trong hạn một năm kể từ ngày làm xong.
Điều 30. Những đất chưa làm nhà sẽ chịu thuế theo bảng kê sau đây:
Điều 31. Thuế thổ trạch thu theo sổ nhân danh. Việc thu thuế, thôi thúc và truy tố các người chậm nộp hoặc không chịu nộp thuế đều theo các thể lệ chung ấn định trong chế độ tài chính về loại thuế trực thu.
Điều 32. Những thuế thiếu sót có thể truy thu trong một thời hạn là hai năm kể từ năm những số thuế ấy đáng lẽ phải nộp.
Điều 33. Thuế môn bài đánh vào tất cả các người hoặc đoàn thể có tư cách pháp nhân kinh doanh về một nghề trên đất Việt Nam, trừ những trường hợp được miễn kể ở điều 38 dưới đây.
Điều 34. Hàng năm những người chịu thuế môn bài phải làm tờ khai theo mẫu chính thức của Chính phủ và gửi đến Ty Thuế trực thu sở tại trong hạn hai tháng đầu năm.
Điều 35. Nếu hai vợ chồng cùng kinh doanh một nghề mà ở cùng chung một nhà thì dù ở chế độ phân chia tài sản cũng chỉ phải chịu chung một môn bài.
Điều 36. Khi một công ty ở vào trường hợp phải chịu thuế môn bài thì mặc dầu đặt dưới chế độ nào, theo hình thức nào, chính thức thành lập hay không, các hội viên đều phải liên đới chịu trách nhiệm về số tiền thuế môn bài của công ty.
Điều 37. Thuế đánh ở thành phố hay tỉnh người chịu thuế có cơ sở dùng về việc kinh doanh (cửa hàng, nhà máy, xưởng thợ, buồng giấy, vv...)
Điều 38. Những nghề nghiệp sau đây được miễn thuế môn bài:
Điều 39. Chính tang thuế môn bài gồm có hai phần:
Điều 40. Thuế chính cung đánh tuỳ theo sự quan trọng của công việc kinh doanh và lựa chọn trong các thuế biển ấn định ở các bảng A và bảng B phụ vào Chương ba sắc lệnh này.
Điều 41. Thuế chính cung đánh vào cơ sở chính. Cơ sở chính là cơ sở có đủ điều kiện để kinh doanh riêng biệt và có tính cách lâu dài, dù hoạt động từng vụ hay quanh năm.
Điều 42. Thuế phụ cung tính theo 6% giá tiền thuê ngôi nhà hoặc gian nhà dùng vào việc kinh doanh, kể cả các cơ sở chính và phụ.
Điều 43. Thuế môn bài thu theo sổ nhân danh. Tuy nhiên những môn bài nhỏ có thể thu theo số tổng số.
Điều 44. Sổ phụ lập 3 tháng một lần và cũng theo các thể thức như khi lập sổ chính. Tuy nhiên trong trường hợp người chịu thuế ưng thuận thuế suất do Ty thuế ấn định, các thể thức nói ở điều 43 không phải áp dụng.
Điều 45. Các người chịu thuế chỉ được quyền xin trích lục số thuế riêng về thuế suất của mình thôi.
Điều 46. Những thuế thiết sót có thể truy thu trong một thời hạn là hai năm sau năm mà sổ thuế ấy đáng lẽ phải nộp.
Điều 47. Thuế môn bài đánh hàng năm và căn cứ vào tình hình ngày mồng 1 tháng giêng dương lịch.
Điều 48. Khi nào nhượng lại xí nghiệp thì người bán có thể xin sang tên môn bài cho người mua được.
Điều 49. Khi nào phế nghiệp vì người chịu thuế mệnh một hoặc vỡ nợ hay cáo cùng, số tiền thuế môn bài thuộc về những tháng sau khi các công việc kinh doanh đình chỉ hẳn có thể được ân giảm hoặc miễn.
Điều 50. Khi nào thuyên trụ sở từ tỉnh này sáng tỉnh khác người chịu thuế phải làm tờ khai với Ty thuế trực thu nơi hiện trú và Ty Thuế trực thu nơi định đến kinh doanh. Tờ khai phải gửi đến các cơ quan kể trên 15 hôm trước khi thuyên chuyển.
Điều 51. Khi nào đổi nghề, người chịu thuế phải làm tờ khai với Ty Thuế trực thu kể rõ ngày tháng bắt đầu làm nghề mới, tính chất nghề mới và các yếu tố có liên can đến nghề mới theo các chi tiết ấn định ở điều 34. Nếu nghề mới thuộc vào hạng thuế cao hơn nghề cũ, người chịu thuế phải nộp thêm tiền thuế kể từ tháng bắt đầu làm nghề mới cho đến cuối năm.
Điều 52. Người nào đã nộp được cả xuất hay nửa xuất thuế sẽ nhận được giấy môn bài.
Điều 53. Những xí nghiệp nộp thuế môn bài đước 200đ chính cung phải niêm yết giấy môn bài ngay ở bàn giấy của hãng hay xưởng thợ của mình để tiện việc kiểm soát. Trái với điều này có thể bị phạt mỗi lần là 100đ.
Điều 54. Giấy môn bài chỉ có hiệu lực đối với người đứng tên chịu thuế và không thể cho người khác mượn được.
Điều 55. Bất cứ lúc nào các kiểm soát viên thuế trực thu và các viên chức có giấy uỷ quyền của Sở thuế trực thu cũng có thể đòi người chịu thuế xuất trình giấy môn bài được.
Điều 56. Người chịu thuế hoặc người có uỷ quyền mà khai gian hoặc khai thiếu điều gì về sự kinh doanh của mình mục đích để trốn thuế hay chịu thuế nhẹ, sẽ phải phạt một số tiền gấp đôi sổ thuế chính cung đáng lẽ phải đóng.
Điều 57. Việc thu thuế môn bài cũng theo các thể lệ chung ấn định trong chế độ tài chính về loại thuế trực thu. Các việc giảm thuế, miễn thuế đều theo thủ tục ấn định ở Chương VII Bộ luật này.
Phần l — ương bổng từ 0đ đến 1.500đ ³ 2% ³ ³
Phần l — ương bổng từ 1.501đ đến 3.000đ ³ 4% ³ ³
Phần l — ương bổng trên 3.000đ .......... ³ 8% ³
Phần l — ợi tức từ 100đ đến 2.000đ ³ 1% ³ ³

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.