Quyết định · Bộ Giao thông vận tải

Quyết định 737/2001/QĐ-BGTVT

Về việc ban hành Điều lệ đường ngang

Tình trạng
Hết hiệu lực toàn bộ
Ngày ban hành
19/03/2001
Ngày có hiệu lực
04/04/2001
Hết hiệu lực
12/02/2005
Đọc toàn văn bản chính thức ↗ Nguồn: vbpl.vn

Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.

Lịch sử sửa đổiSo sánh các phiên bảnVăn bản liên quan

Quan hệ với văn bản khác

Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)

Hướng dẫn thi hành (2)

Bố cục (58 điều)

Điều 1. Nay ban hành "Điều lệ đường ngang" kèm theo Quyết định này.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký và thay thế Điều lệ đường ngang đã ban hành theo Quyết định số 575/QĐ ngày 24 tháng 5 năm 1977 của Bộ Giao thông vận tải.
Điều 3. Chánh Văn phòng Bộ, các Vụ trưởng các Vụ thuộc Bộ Giao thông vận tải, Tổng Giám đốc Liên hiệp đường sắt Việt Nam, Cục trưởng Cục Đường bộ Việt Nam, Cục trưởng Cục Giám định và quản lý chất lượng công trình giao thông vận tải, Giám đốc các Sở Giao thông vận tải, Sở Giao thông công chính và mọi tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc quản lý, xây dựng, sử dụng, khai thác đường ngang chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
Chương I — QUY ĐỊNH CHUNG
  Điều 1.
  Điều 2. Phạm vi đường ngang bao gồm:
  Điều 3. Đường ngang được phân loại như sau:
  Điều 4. Đường ngang được phân thành các cấp cụ thể như sau:
  Điều 5. Việc phòng vệ đường ngang được quy định như sau:
  Điều 6. Hệ thống báo hiệu đường ngang là tài sản của Nhà nước, là phương tiện bảo đảm an toàn giao thông, phòng ngừa tai nạn, mọi người đều có trách nhiệm bảo vệ những báo hiệu trên đường ngang; không được tự ý di chuyển, chiếm đoạt, làm hư hỏng hoặc làm giảm hiệu lực và tác dụng của những báo hiệu trên đường.
  Điều 7. Hàng năm, cơ quan quản lý đường sắt và cơ quan quản lý đường bộ phối hợp kiểm tra, lập kế hoạch sửa chữa đường ngang.
  Điều 8. Lực lượng Thanh tra giao thông Đường sắt, Đường bộ có trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành pháp luật về bảo vệ công trình giao thông và an toàn giao thông tại đường ngang.
Chương II — TẦM NHÌN, VỊ TRÍ, GÓC GIAO CẮT
  Điều 9. Tầm nhìn tối thiểu cho người lái xe, lái tàu phải bảo đảm như sau:
  Điều 10. Vị trí đặt đường ngang phải thoả mãn các điều kiện:
  Điều 11. Góc giao cắt giữa đường sắt và đường bộ là 900; trường hợp địa hình khó khăn góc giao cắt không được nhỏ hơn 450.
Chương III — CÔNG TRÌNH VÀ KIẾN TRÚC ĐƯỜNG NGANG
  Điều 12. Đoạn đường bộ tại các đường ngang ngoài việc phải bảo đảm các quy định của Tiêu chuẩn ngành TCVN 4054-98 về đường ô tô, còn phải bảo đảm các quy định cụ thể sau:
  Điều 13. Mặt lát đường bộ trong phạm vi đường ngang được quy định như sau:
  Điều 14. Đoạn đường sắt trong phạm vi đường ngang phải bảo đảm các yêu cầu sau:
  Điều 15. Nhà gác đường ngang chỉ được xây dựng khi có quyết định của Người đứng đầu Đường sắt Việt Nam và phải bảo đảm các điều kiện sau:
Chương IV — BÁO HIỆU ĐƯỜNG NGANG
  Điều 16. Dọc hai bên lề đường bộ dẫn vào đường ngang phải trồng cọc tiêu theo quy định của Điều lệ báo hiệu đường bộ hiện hành ( Phụ bản II ).
  Điều 17. Trên mặt đường bộ dẫn vào đường ngang cấp I, cấp II nếu mặt đường rải bê tông nhựa hoặc lát tấm bê tông cốt thép thì từ chắn đường bộ trở ra 3 m ở nơi có chắn hoặc từ má ray ngoài cùng trở ra 5 m ở nơi không có chắn, phải sơn hoặc lát một vạch trắng liền, cắt ngang mặt đường bộ ( "vạch dừng "1.12 Phụ lục số 8 ).
  Điều 18. Trên hai phía đường bộ đi vào đường ngang phải đặt biển báo hiệu theo quy định của Điều lệ báo hiệu đường bộ hiện hành:
  Điều 19. Đường ngang có tổ chức phòng vệ phải đặt đèn báo hiệu và chuông điện trên đường bộ.
  Điều 20. Đèn báo hiệu và chuông điện trên đường bộ quy định tại Điều 19 Điều lệ này phải đạt các yêu cầu sau:
  Điều 21.
  Điều 22. Trên hai phía đường sắt đi tới đường ngang phải đặt biển "Kéo còi". Vị trí, quy cách biển quy định trong Quy trình tín hiệu Đường sắt Việt Nam.
  Điều 23. Trên hai phía đường sắt đi tới đường ngang có người gác khi cần phải đặt tín hiệu ngăn đường thì Người đứng đầu Đường sắt Việt Nam quyết định, trừ những đường ngang sau:
  Điều 26. Trong nhà gác đường ngang phải có các thiết bị thông tin tín hiệu như điện thoại hoặc điện thoại và thiết bị thông báo tự động cho nhân viên gác chắn biết khi tàu tới gần đường ngang.
  Điều 27. Đường ngang có người gác ở nơi có nguồn điện lưới quốc gia phải trang bị đèn chiếu sáng về ban đêm và ban ngày khi có sương mù. ánh sáng đèn đủ để người điều khiển phương tiện giao thông nhìn rõ tín hiệu của người gác chắn.
  Điều 28. Các thiết bị tín hiệu và thiết bị phòng vệ đường ngang có người gác hoạt động bằng điện phải điều khiển tập trung tại nhà gác đường ngang. Các thiết bị này phải luôn tốt, sử dụng được và phải điều khiển được bằng tay nếu thiết bị tự động bị hỏng đột xuất.
  Điều 29. Đường ngang có người gác phải đặt chắn ở hai đầu đường bộ đi vào đường ngang. Xà chắn đặt cách má ray ngoài cùng 6 m. Trường hợp điạ hình hạn chế, xà chắn không được vi phạm khổ giới hạn tiếp giáp kiến trúc của đường sắt.
  Điều 30. Ở đường ngang có người gác, khi chắn đã đóng, xà chắn phải chắn ngang hết mặt đường bộ, liền sát với hàng rào cố định và phải cao hơn mặt đường bộ từ 1 đến 1,2 m.
  Điều 31. Chắn ở đường ngang có người gác có 2 loại: cần chắn và giàn chắn. Quy cách, tiêu chuẩn kỹ thuật của cần chắn, giàn chắn được quy định theo sơ đồ tại Phụ bản IV.
  Điều 32. Đường ngang cấp I, cấp II có tổ chức phòng vệ phải trang bị cần chắn tự động hoặc tín hiệu cảnh báo tự động. Khi chưa có cần chắn tự động hoặc tín hiệu cảnh báo tự động thì phải có người gác.
  Điều 33.
  Điều 34. Các cơ cấu và thiết bị chắn tự động phải bảo đảm hoạt động theo trình tự sau:
  Điều 35.
  Điều 36. Tại ngã ba, ngã tư đường bộ có nhánh đường bộ đi vào đường ngang có tổ chức phòng vệ, khi khoảng cách từ ngã ba, ngã tư đó đến đường ngang nhỏ hơn 50 m thì cơ quan quản lý đường bộ phải:
  Điều 37. Đường bộ cùng một lúc giao cắt cả đường sắt và đường bộ chạy song song với đường sắt, việc đặt biển báo hiệu trên đường bộ đi vào đường ngang quy định như sau:
Chương V — QUY ĐỊNH VỀ GIAO THÔNG TRÊN ĐƯỜNG NGANG
  Điều 38. Người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ khi qua đường ngang phải thực hiện theo quy định như sau:
  Điều 39. Trong phạm vi đường ngang cấm quay xe và đỗ xe.
  Điều 40. Xe bánh xích, các loại xe lu bánh sắt, các phương tiện vận tải chuyên chở hàng siêu trường, siêu trọng, quá khổ giới hạn lưu thông trên đường bộ, trước khi đi qua đường ngang phải báo trước với nhân viên gác chắn để người đó bố trí và hướng dẫn đi qua đường ngang. Nơi không có nhân viên gác chắn thì phải báo trước cho đơn vị quản lý trực tiếp đoạn đường sắt đó để cử người phòng vệ và hướng dẫn đi qua đường ngang.
  Điều 41. Khi phương tiện giao thông đường bộ bị hỏng, bị tai nạn hoặc hàng hoá rơi đổ tại đường ngang không có nhân viên gác chắn mà điểm gần nhất của xe hoặc của hàng hoá cách ray ngoài cùng nhỏ hơn 1,7 m thì người điều khiển phương tiện giao thông đó phải tìm biện pháp để báo cho tàu ngừng trước chướng ngại
  Điều 42. Đoàn xe thô sơ, đàn súc vật khi qua đường ngang phải được chia ra từng tốp nhỏ theo quy định của pháp luật về giao thông đường bộ hiện hành. Đối với súc vật qua đường ngang người coi dẫn súc vật phải dẫn dắt chúng.
  Điều 43. Cấm người không có trách nhiệm leo trèo, xê dịch, động chạm vào các tín hiệu, thiết bị đường ngang; vào nhà gác đường ngang.
  Điều 44. Khi sắp tới đường ngang, người điều khiển phương tiện giao thông đường sắt phải kéo còi, chú ý tín hiệu ngăn đường, tín hiệu cảnh báo đường ngang (nếu có), chú ý quan sát đường ngang để nhanh chóng hãm tàu khi thấy có tín hiệu dừng tàu hoặc có trở ngại trên đường ngang.
  Điều 45.
Chương VI — TỔ CHỨC PHÒNG VỆ ĐƯỜNG NGANG
  Điều 46. Tại đường ngang có bố trí người gác phải:
  Điều 47.
Chương VII — QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG ĐƯỜNG NGANG
  Điều 48.
  Điều 49.
  Điều 50. Thẩm quyền quyết định thành lập, bãi bỏ, chuyển cấp đường ngang quy định như sau:
  Điều 51.
  Điều 52.
  Điều 53. Mọi tổ chức xin thành lập đường ngang, nâng cấp, làm đường ngầm, cầu vượt qua đường sắt phải tuân theo quy định về vốn đầu tư xây dựng, cụ thể như sau:
  Điều 54. Vốn dành cho quản lý và sửa chữa đường ngang do ngành đường sắt và ngành đường bộ quản lý được bố trí từ nguồn vốn ngân sách. Vốn quản lý và sửa chữa đường ngang chuyên dùng khác do cơ quan quản lý và sử dụng đường ngang chịu trách nhiệm.
  Điều 55. Phạm vi quản lý đường ngang quy định như sau:
  Điều 56. Khi sửa chữa đường ngang có ảnh hưởng đến giao thông đường bộ, đơn vị thi công đường sắt phải bàn thống nhất với cơ quan quản lý đường bộ, không được làm ách tắc giao thông đường bộ và đường sắt trong thời gian sửa chữa. Trong khi sửa chữa phải bảo đảm an toàn giao thông, khi cần phải cử người hướng dẫn người và các phương tiện tham gia giao thông đường bộ qua lại đường ngang; phải đặt các biển báo hiệu, ban đêm phải thắp đèn đỏ; khi tạm nghỉ giữa hai đợt sửa chữa phải bố trí người điều khiển và hướng dẫn các phương tiện tham gia giao thông đường bộ qua lại đường ngang an toàn.
Chương VIII — ĐIỀU KHOẢN CUỐI CÙNG
  Điều 57. Việc xây dưng mới đường ngang phải tuân theo quy định tại Điều lệ này.

vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.