Văn bản
Văn bản 79/CP
Quy định chi tiết thi hành Luật Xuất bản
- Tình trạng
- Hết hiệu lực toàn bộ
- Ngày ban hành
- 06/11/1993
- Ngày có hiệu lực
- 20/09/2005
- Hết hiệu lực
- 20/09/2005
Văn bản có giá trị pháp lý là bản đăng trên Công báo điện tử / Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật. vandap chỉ tóm tắt, phân tích và dẫn tới bản chính thức.
Quan hệ với văn bản khác
Bị sửa đổi, bổ sung bởi (1)
Bị thay thế / bãi bỏ bởi (1)
Được hướng dẫn bởi (3)
- 21/2002/QĐ/UB — V/v ban hành Qui định về quản lý phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn (08/05/2002)
- 167/1998/QĐ-UB — V/v “Thành lập Hội đồng giám định lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật Tỉnh Bình Phước” (17/12/1998)
- 01/1998/QĐ-BVHTT — Về Quy chế lưu chuyển xuất bản phẩm (30/07/1998)
Hướng dẫn thi hành (2)
- Không số — Xuất bản (07/07/1993)
- Không số — Tổ chức Chính phủ (30/09/1992)
Bố cục (35 điều)
Điều 1. Hoạt động xuất bản quy định tại Luật Xuất bản gồm các lĩnh vực sản xuất, in, phát hành. Điều 2. Nhà nước không kiểm duyệt tác phẩm trước khi xuất bản, trừ trường hợp nội dung tác phẩm có dấu hiệu vi phạm Điều 22 Luật Xuất bản. Điều 3. Tác giả nói tại Luật Xuất bản là cá nhân, tổ chức sáng tạo ra tác phẩm về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật được phổ biên dưới hình thức xuất bản phẩm bằng các thể loại: sáng tác, phóng tác, chuyển thể, biên soạn, tuyển chọn, nghiên cứu, dịch thuật. Điều 4. Nhà nước bảo đảm quyền sáng tạo, phổ biến tác phẩm và hưởng thụ xuất bản phẩm của công dân, tổ chức bằng các chính sách: Điều 5. Việc thành lập nhà xuất bản, cơ sở sản xuất băng âm thanh, đĩa âm thành, băng hình, đĩa hình (dưới đây gọi chung là nhà xuất bản) phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp xuất bản. Điều 6. - Bộ Văn hoá - Thông tin có trách nhiệm phối hợp với các Hội văn học, nghệ thuật, khoa học kỹ thuật, cơ quan hữu quan quy định các loại tác phẩm cần thẩm định nội dung trong các tác phẩm trước cách mạng Tháng Tám, trong vùng bị tạm chiếm cũ và sách dịch của nước ngoài. Điều 7. Điều 8. Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi nhận được bản thảo, nhà xuất bản phải trả lời cho tác giả. Việc xuất bản, tái bản, phải ký hợp đồng với tác giả. Hợp đồng xuất bản phải ghi rõ thời gian xuất bản, số bản in, quyền lợi, trách nhiệm của tác giả và nhà xuất bản; thời gian được giữ quyền xuất bản của nhà xuất bản. Điều 9. Chậm nhất 30 ngày kể từ khi nhận được kế hoạch xuất bản đã được cơ quan chủ quản phê duyệt, Bộ Văn hoá - Thông tin xem xét và cấp giấy chấp nhận đăng ký kế hoạch xuất bản. Điều 10. Đối với việc xuất bản từng tác phẩm, nhà xuất bản có thể huy động vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước để in, phát hành xuất bản phẩm thông qua hợp đồng và phải được ghi rõ trong kế hoạch xuất bản đăng ký với cơ quan quản lý Nhà nước về xuất bản có thẩm quyền. Điều 11. Việc hợp tác với nước ngoài về xuất bản, in, phát hành được tiến hành trên cơ sở các điều ước quốc tế mà Chính phủ Việt Nam ký kết với Chính phủ các nước hoặc các tổ chức phi Chính phủ. Tổ chức quốc tế hoặc được Chính phủ Việt Nam uỷ quyền cho cơ quan có thẩm quyền ký kết. Điều 12. Xuất bản phẩm trên giấy phải ghi: Điều 13. Lưu chiểu xuất bản phẩm: Điều 14. Trên xuất bản phẩm nộp lưu chiểu phải đóng dấu "Lưu chiểu", dấu của cơ quan và chữ ký của người có thẩm quyền kèm theo tờ khai do Bộ Văn hoá - Thông tin quy định. Điều 15. Cơ sở in, nhân bản quy định tại Luật Xuất bản bao gồm: in typô, ốpxét, in lõm (ống đồng), in lưới (in lụa), in flêxô, in laze, in khắc gỗ, in roneo, chế bản, đúc chữ, sắp chữ, phân màu, đóng xén, ép nhũ; kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư thiết bị ngành in; sản xuất và sửa chữa cơ khí ngành in, sản xuất vật liệu in, dạy nghề in; in sang băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình; photocoppy, sau đây gọi chung là cơ sở in, nhân bản. Điều 16. Muốn thành lập cơ sở in, nhân bản là doanh nghiệp Nhà nước, người đứng đầu cơ quan chủ quản phải có hồ sơ xin thành lập gửi Bộ Văn hoá - Thông tin. Hồ sơ gồm có: Điều 17. Cơ sở in, nhân bản của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội không phải là doanh nghiệp in Nhà nước chỉ được in, nhân bản các tài liệu phục vụ nội bộ. Việc thành lập cơ sở in, nhân bản nói tại Điều này do Bộ Văn hoá - Thông tin quy định. Điều 18. Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, muốn hoạt động kinh doanh các nghề ép nhũ, in roneo, photocoppy, in lưới (in lụa) thủ công, in khắc gỗ, đóng xén, vật tư ngành in, sản xuất và sửa chữa cơ khí ngành in, sản xuất vật liệu in; dạy nghề in, nhân bản phải được Sở Văn hoá - Thông tin cho phép theo điều kiện và quy chế hoạt động do Bộ Văn hoá - Thông tin quy định. Điều 19. Cơ sở in, nhân bản chỉ được in, nhân bản xuất bản phẩm theo quy định sau đây: Điều 20. Việc in, nhân bản các sản phẩm khác được thực hiện theo quy định sau đây: Điều 21. Việc xuất khẩu, nhập khẩu thiết bị ngành in phải được Bộ Văn hoá - Thông tin cho phép. Điều 22. Muốn thành lập tổ chức phát hành Nhà nước, người đứng đầu cơ quan chủ quản phải có hồ sơ xin thành lập gửi Bộ Văn hoá - Thông tin. Hồ sơ gồm có: Điều 23. Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, tổ chức có vốn, có địa điểm kinh doanh, muốn làm đại lý, mở cửa hàng bán, cho thuê xuất bản phẩm, mua bán sách cũ; nhà xuất bản mở cửa hàng để tuyên truyền, giới thiệu, bán xuất bản phẩm của mình, làm đại lý bán xuất bản phẩm của các nhà xuất bản khác phải được Sở Văn hoá - Thông tin sở tại cho phép. Điều 24. Đại lý, cửa hàng chỉ được nhận xuất bản phẩm có hoá đơn của tổ chức phát hành Nhà nước, nhà xuất bản và phải bán đúng giá quy định ghi trên xuất bản phẩm. Điều 25. Việc xuất khẩu, nhập khẩu xuất bản phẩm phải được Bộ Văn hoá - Thông tin cho phép. Điều 26. Cục Xuất bản là cơ quan chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Văn hoá - Thông tin thực hiện việc quản lý Nhà nước về các lĩnh vực xuất bản, in, phát hành trong cả nước. Điều 27. Nhiệm vụ và quyền hạn của Sở Văn hoá - Thông tin do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định theo sự phân cấp của Bộ Văn hoá - Thông tin. Điều 28. Nhà xuất bản, cơ sở in, tổ chức phát hành và các tổ chức, cơ quan Nhà nước, cá nhân khác có thành tích trong các lĩnh vực xuất bản, in, phát hành được khen thưởng theo quy định của Nhà nước. Điều 29. Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm Luật Xuất bản bị xử phạt hành chính như sau: Điều 30. Việc xử lý các vi phạm hành chính quy định tại Điều 31 của Nghị định này theo thẩm quyền, thủ tục đã được quy định tại các Điều 33 và 34 Luật Xuất bản và Chương II, Chương IV Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành chính ngày 30 tháng 11 năm 1989. Điều 31. Bộ Văn hoá - Thông tin quy hoạch lại toàn bộ hệ thống tổ chức nhà xuất bản, cơ sở in, tổ chức phát hành trong cả nước; ban hành quy chế hoạt động của nhà xuất bản, các loại cơ sở in, tổ chức phát hành; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; tăng cường tổ chức và biện pháp quản lý Nhà nước để phát huy vai trò của hoạt động xuất bản theo quy định của Luật Xuất bản. Điều 32. Đối với nhà xuất bản, doanh nghiệp in, tổ chức phát hành Nhà nước, cơ sở in, nhân bản, phát hành của công dân, tập thể, tổ chức thành lập và hoạt động trước khi ban hành Luật Xuất bản dều phải đăng ký lại. Bộ Văn hoá - Thông tin, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương căn cứ vào quy hoạch chung, điều kiện và tiêu chuẩn quy định tại Luật Xuất bản và Nghị định này, quyết định việc cấp lại giấy phép hoạt động. Điều 33. Bộ Văn hoá - Thông tin cùng các Bộ, ngành hữu quan có trách nhiệm cụ thể hoá việc thực hiện các chính sách đối với hoạt động xuất bản, bảo đảm quyền sáng tạo và phổ biến tác phẩm, quyền hưởng thụ xuất bản phẩm của công dân, tổ chức quy định tại Điều 4 Nghị định này. Điều 34. Bộ Văn hoá - Thông tin cùng với Bộ Ngoại giao có trách nhiệm trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định về việc phổ biến tác phẩm của công dân, tổ chức Việt Nam ra nước ngoài và việc xuất bản, in, phát hành của tổ chức, người nước ngoài ở Việt Nam. Điều 35. Những quy định của Chính phủ trước đây trái với Luật Xuất bản và Nghị định này đều bãi bỏ./.
vandap cung cấp thông tin pháp luật, không phải tư vấn pháp lý. Với vụ việc cụ thể, hãy hỏi luật sư hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước.